Chương 1: Giới thiệu khái quát về đề tài nghiên cứu Chương 2: Lược khảo lý thuyết các nghiên cứu trước đây, chương này giới thiệu khái quát về cơ sở lý thuyết nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với thực tế. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu, chương này trình bày khung phân tích, mô hình nghiên cứu, cỡ mẫu, các đặc điểm của mẫu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu, quy trình thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, chương này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm, những kết quả nghiên cứu đạt được tương ứng cho từng mục tiêu đề ra. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách, những kết luận rút ra từ nghiên cứu, những hạn chế, đề xuất những kiến nghị và hướng nghiên cứu tiếp theo.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ Chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về hành vi tuân thủ thuế như: Việc chấp hành nghĩa vụ thuế, khái niệm tuân thủ thuế và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp. Mặt khác, tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu trước đây có liên quan đến hành vi tuân thủ thuế. Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp siêu nhỏ,nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Biểu quy định về Doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh Quy mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn vôn động nguồn vôn động Từ trên 20 Từ trên I.
Nông Từ trên 10 tỷ đồng 10 người 20 tỷ đồng 200 người lâm nghiệp người đến đến trên trở xuông trở xuông đến 300 và thủy sản 200 người 100 tỷ người đồng Từ trên 20 Từ trên II. Công Từ trên 10 tỷ đồng 10 người 20 tỷ đồng 200 người nghiệp và người đến đến trên trở xuông trở xuông đến 300 xây dựng 200 người 100 tỷ người đồng III. Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 Thương 10 người 10 tỷ đồng tỷ đồng người đến người đến mại và trở xuông trở xuông đến 50 tỷ 50 người 100 người dịch vụ đồng 2. Nghĩa vụ thuế Theo Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 thì nghĩa vụ của người nộp thuế gồm: “Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật.
Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế. Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm. Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế.
Lập và giao TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế. Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định”.
Căn cứ quy định trên, nghĩa vụ của người nộp thuế được khái quát cụ thể như sau: + Việc đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế phải theo quy định của pháp luật. + Kê khai nghĩa vụ thuế phải đãm bảo sự chính xác, trung thực, đầy đủ, nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn và chịu trách nhiệm về việc kê khai đó. + Chấp hành chế độ kế toán, chứng từ, hóa đơn theo quy định của pháp luật. + Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế.
+ Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công tác quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Theo OCED (2004) [9], quản lý rủi ro tuân thủ: "Nghĩa vụ cụ thể của đối tượng nộp thuế có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các cơ quan thuế khác nhau, nhưng có bốn loại nghĩa vụ mà đối tượng nộp thuế chắc chắn phải thực hiện dù là ở bất kỳ nước nào, đó là: - Đăng ký thuế; - Nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn; - Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu giữ sổ sách); TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn" Nghĩa vụ thuế theo Luật Quản lý thuế của Việt Nam và theo Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OCED) không hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên về cơ bản có những điểm tương đồng, đó là: đăng ký thuế, kê khai thông tin, nộp tờ khai và nộp tiền thuế đúng hạn. Tuân thủ thuế Dù là ở bất kỳ quốc gia nào, hành vi tuân thủ thuế luôn được Nhà nước quan tâm và được xem là thước đo giá trị cho những đóng góp mà cá nhân hoặc tổ chức mang lại cho xã hội, mức đóng góp cho xã hội nhiều hay ít là tùy thuộc vào quy mô và năng lực cụ thể của từng cá nhân hoặc từng tổ chức mang lại. Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế bao gồm 03 nghĩa vụ cơ bản sau: (1) Nộp từ khai đúng hạn; (2) Kê khai (hoặc báo cáo) chính xác trên tờ khai về những thông tin cần thiết số tiền thuế phải nộp; (3) Nộp nghĩa vụ thuế kịp thời.
Các nghĩa vụ này được xem là hành vi tuân thủ về các quy định của pháp luật. Hành vi tuân thủ thuế là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Quan điểm truyền thống cho rằng hầu hết người nộp thuế không tự nguyện tuân thủ thuế, họ chỉ chấp hành nghĩa vụ thuế khi có sự cưỡng chế của cơ quan thuế (CQT) hoặc khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế. Vì vậy, cách tiếp cận tuân thủ thuế theo luật thuế chỉ có thể làm giảm mức độ trốn thuế chứ không thể hướng đến việc tăng cường tuân thủ thuế.
Khái niệm tuân thủ thuế còn thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia tranh luận về phương diện tuân thủ tự nguyện hay không tự nguyện. Một trong những mục tiêu được xem là cao nhất của quản lý thuế là tăng tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế, thay vì đưa ra những hình thức xử phạt các đối tượng trốn thuế và tránh thuế. Hầu hết quan điểm nghiên cứu hiện nay đều tập trung xem xét tính tự nguyện chấp hành thuế. James và Alley (1999) đã đặt ra câu hỏi: sự “tuân thủ” có được là do hành vi tự nguyện hay bắt buộc ? Nếu người nộp thuế “tuân thủ” chỉ vì sự đe dọa hoặc do TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 các biện pháp cưỡng chế hành chính, hoặc do cả hai thì điều này không được cho là hoàn toàn tuân thủ, ngay cả khi khoản thu từ thuế đạt đến 100% so với mức thuế phải nộp theo luật định.
Vì vậy, quan điểm hiện đại cho rằng cơ quan quản lý thuế sẽ thành công khi gia tăng được hành vi tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế mà không cần sử dụng đến các hình thức kiểm tra, thanh tra, nhắc nhở hoặc các biện pháp xử lý hành chính khác. Trên thế giới đã có nhiều quan niệm về tuân thủ thuế được đề cập đến, cụ thể: Theo Hamm (1995) thì tuân thủ thuế được xác định theo cách sau: Người nộp thuế khai báo hồ sơ khai thuế cần thiết tại thời điểm thích hợp và thực hiện chính xác nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế, các quyết định của tòa án. Theo tổ chức OECD (2004) định nghĩa tuân thủ thuế: “Tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình. Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế có 3 nghĩa vụ cơ bản: (1) nộp tờ khai thuế đúng hạn; (2) kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế; và (3) nộp nghĩa vụ thuế kịp thời.
Các nghĩa vụ này thường được coi là tuân thủ về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai), và tuân thủ về thu nộp”. Theo James và Alley (1999), “tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế”. Tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009): “sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian”. Nguyễn Thị Thanh Hoài và các thành viên (2011): Tuân thủ là việc chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký, kê khai, báo cáo, nộp thuế.