chương 1 luận văn đã trình bày về mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng thương mại. Phạm vi nghiên cứu về thu nhập ngoài lãi và những nhân tố liên quan của 32 ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố cùng bộ dữ liệu bảng trong 23 năm từ 1992 - 2015. Luận văn có ý nghĩa khoa học là một trong những nghiên cứu đầu tiên hệ thống lý luận về thu nhập ngoài lãi và vận dụng mô hình hồi quy các nhân tố trên thực tế tại Việt Nam và ý nghĩa thực tiễn tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo sau này về thu nhập ngoài lãi cũng như đóng góp một số khuyến nghị đối với các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội có liên quan.
Bên cạnh những điểm nổi bật về nội dung nghiên cứu khá mới mẻ cùng phương pháp nghiên cứu hiện đại, tác giả lựa chọn kết cấu 5 chương để trình bày kết quả nghiên cứu của mình. 14 z CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Phần đầu tiên của cơ sở lý luận, luận văn đi vào trình bày một số nét tổng quan về hoạt động kinh doanh ngân hàng, thu nhập ngoài lãi và hoạt động phi tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THU NHẬP NGOÀI LÃI 2. Hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm và phân loại ngân hàng thương mại + Khái niệm Trên thế giới, theo quan điểm của Peter S. Rose (2001), ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục đa dạng nhất các dịch vụ tài chính, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán. Đồng thời thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức tài chính nào khác trong nền kinh tế. Còn ở mỗi quốc gia cũng có những định nghĩa, và những cách hiểu riêng về Ngân hàng.
Ở Việt Nam, theo quy định tại điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng (2010) định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là một TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. + Phân loại ngân hàng thương mại Theo phân loại của Peter S. Rose (2001), hệ thống các ngân hàng bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ…. Mặt khác, nếu phân loại dựa trên cấu trúc vốn thì có thể chia thành: Ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại liên doanh, chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài và ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài.
Chức năng của ngân hàng thương mại hiện đại Thời gian trước, ngân hàng thương mại chỉ đóng vai trò là tổ chức tài chính trung gian dẫn truyền vốn giữa các chủ thể có nhu cầu trong nền kinh tế. Theo thời gian và quy luật của sự phát triển, các ngân hàng hiện đại ngày nay đã thực hiện thêm nhiều chức năng 15 z hơn nhằm đáp ứng cho nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Chính vì thế mà các hoạt động kinh doanh ngân hàng hiện đại ngày nay rất đa dạng và nhiều tiện ích. Nghiên cứu của Peter S.
Rose (2001) trên thế giới cho thấy, các NHTM đang mở rộng đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng hiện đại nhằm phục vụ nhu cầu của khách hàng dưới áp lực cạnh tranh gay gắt với các định chế tài chính khác. Từ đó có sự chuyển dịch trong cơ cấu doanh thu từ các dịch vụ tín dụng truyền thống sang các dịch vụ ngân hàng hiện đại: Thanh toán, tư vấn tài chính, môi giới, uỷ thác, quản lý tiền mặt, dịch vụ ngân hàng đầu tư…. Chức năng ngân hàng thương mại hiện đại Ngân hàng đầu tư và bảo lãnh Quản lý tiền Uỷ thác mặt Lập kế hoạch Tín dụng đầu tư Môi giới Tiết kiệm Bảo Hiểm Thanh toán Nguồn: Peter S. Hoạt động kinh doanh ngân hàng Tại Việt Nam, hoạt động kinh doanh ngân hàng được đề cập trong khoản 2, điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng 2010 cụ thể là: “Việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Bùi Diệu Anh và các đồng sự (2009), hoạt động kinh doanh của NHTM được chia thành nghiệp vụ nội bảng và nghiệp vụ ngoại bảng. Nghiệp vụ nội bảng gồm: Nghiệp vụ tài sản nợ (liên quan đến việc hình thành nguồn vốn hoạt động ban đầu và nguồn vốn kinh doanh của các NHTM); Nghiệp vụ tài sản có (liên quan đến việc sử dụng các nguồn vốn của ngân hàng vào hoạt động kinh doanh ngân hàng nhằm tìm kiếm lợi nhuận). Nghiệp vụ ngoại bảng - trung gian hoa hồng là những nghiệp vụ thực hiện việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại như: Dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền, thẻ ngân hàng, két sắt, tư vấn, bảo hiểm, môi giới, ủy thác, phát hành thư bảo lãnh, ngân hàng đại lý…. Bên cạnh đó, nếu dựa vào nguồn thu nhập lãi thì hoạt động kinh doanh ngân hàng có thể chia thành 2 loại: Hoạt động tín dụng tạo ra thu nhập lãi và hoạt động phi tín dụng tạo ra thu nhập ngoài lãi cho các NHTM.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng Hoạt động kinh doanh ngân hàng Hoạt động phi tín Hoạt động tín dụng dụng - Cho vay - Nghiệp vụ tiền gửi, tài khoản - Chiết khấu thanh toán và ngân quỹ - Cho thuê tài chính - Thẻ ngân hàng - Bao thanh toán - Ngân hàng điênh tử. - Kinh doanh ngoại hối - Bảo lãnh - Tư vấn - Uỷ thác. Nguồn: Tổng hợp của nghiên cứu 17 z Hoạt động tín dụng của ngân hàng bao gồm cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán… đem lại nguồn thu nhập lãi. Nhũng hoạt động kinh doanh còn lại thuộc hoạt động kinh doanh phi tín dụng và đem lại nguồn thu nhập ngoài lãi như hình 2.
Cụ thể hoạt động tín dụng bao gồm một số nghiệp vụ dưới đây. + Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng dựa trên các tiêu chí xếp hạng tín dụng khách hàng, NHTM xem xét cấp tín dụng theo yêu cầu của khách hàng. Nếu căn cứ vào thời hạn vay, cho vay bao gồm hai loại: cho vay ngắn hạn (thông thường để đầu tư cho tài sản lưu động), cho vay trung dài hạn (đa phần đầu tư mua tài sản cố định hoặc thực hiện các dự án đầu tư phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh). Ngoài ra còn căn cứ vào mục đích sử dụng vốn mà phân loại thành: Cho vay dự án; Cho vay đồng tài trợ; Cho vay bán lẻ,….
Cho vay dự án: Là loại hình cho vay nhằm giúp đẩy nhanh quá trình đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất. Về bản chất, tài trợ dự án cũng là một hoạt động tín dụng thuộc nghiệp vụ NHTM truyền thống. Cho vay đồng tài trợ: Cho vay đồng tài trợ là một sản phẩm tín dụng thuộc phạm vi kinh doanh truyền thống của ngân hàng. Tuy nhiên, do số vốn yêu cầu cho một giao dịch là rất lớn, có thể vượt mức cho vay tối đa đối với một khoản vay hoặc quá lớn dẫn đến mức độ rủi ro tập trung cũng lớn mà ngân hàng không dám một mình gánh chịu.
Do đó, cho vay đồng tài trợ là một giải pháp để các định chế tài chính cùng nhau san sẻ rủi ro đối với từng khách hàng, từng khoản vay lớn. Dịch vụ cho vay bán lẻ: Hoạt động cho vay tiêu dùng, cho vay cá nhân (cho vay mua tài sản lớn như ôtô, cho vay mua nhà trả góp, cho vay du học,…), cho vay cầm cố, thế chấp, cho vay hộ gia đình,…. Ngày nay, cho vay cá nhân ở phần lớn các ngân hàng thương mại hiện giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh. + Chiết khấu: Các ngân hàng thực hiện chiết khấu các giấy tờ có giá ngắn hạn khác cho các doanh nghiệp lớn và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác cho các ngân hàng khác.
Nghiệp vụ chiết khấu giúp cho doanh nghiệp lớn khôi phục năng lực thanh toán tức thời, cũng như đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn. Do đó rất được ưa chuộng với khách hàng và ngân hàng thương mại vì có đảm bảo bằng giấy tờ có giá nên rủi ro tín dụng rất thấp. 18 z + Cho thuê tài chính: Là nghiệp vụ kinh doanh trong đó bên chủ sở hữu tài sản (bên cho thuê) chuyển giao tài sản cho bên đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định và bên sử dụng tài sản phải thanh toán tiền thuê cho bên chủ sở hữu tài sản. Ngân hàng thường thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính thường theo cách gián tiếp là thông qua bên thứ ba (bên bán tài sản cho thuê).
Vì vậy, bản chất của cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn, tức theo yêu cầu của bên đi thuê, ngân hàng tiến hành mua tài sản và chuyển giao cho bên đi thuê sử dụng. + Bao thanh toán: Là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ đã được hai bên thoả thuận trong hợp đồng kinh tế. Ngân hàng hoặc, công ty bao thanh toán sẽ thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán hỗ trợ các doanh nghiệp có nhu cầu bán những khoản nợ để thu về tiền mặt phục vụ những mục đích kinh doanh, xoay vòng vốn của mình. Sau quá trình điều tra, xem xét, thẩm định đối tác mua hàng, nếu đồng ý tài trợ, hợp đồng bao thanh toán sẽ được ký kết với doanh nghiệp bán hàng.
Và ngân hàng cũng như các công ty bao thanh toán tham gia sẽ được mua lại khoản nợ đó với mức giá chiết khấu phù hợp, đó là tổn phí tài chính mà bên bán hàng và cung ứng dịch vụ phải chịu để đổi lại quyền thu hồi khoản nợ tức thì. Hoạt động phi tín dụng Hoạt động kinh doanh phi tín dụng của các ngân hàng thương mại vô cùng đa dạng và không ngừng được mở rộng, phát triển.