Tổng quan nghiên cứu

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là chủ trương chiến lược hàng đầu nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Sau 5 năm đầu triển khai trên phạm vi toàn quốc, cả nước có 1.298 trên tổng số 9.071 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm tỷ lệ 14,5%), với số tiêu chí bình quân đạt 12 tiêu chí mỗi xã. Tại tỉnh Trà Vinh, thực hiện Quyết định số 438/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020, huyện Càng Long đã tập trung mọi nguồn lực để chuyển đổi diện mạo nông thôn. Với tổng diện tích tự nhiên 29.409 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 84,36% (tương đương 24.808 ha) và 90% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn, Càng Long sở hữu nguồn lực nội sinh dồi dào nhưng chưa được khai thác toàn diện.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng một bộ phận người dân và cán bộ vẫn còn tâm lý thụ động, trông chờ vào nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, chưa thực sự nhận thức đầy đủ vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá thực trạng tham gia đóng góp của hộ gia đình, xác định và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố kinh tế xã hội đến quyết định tham gia, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao tính chủ động của người dân. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại 4 xã điểm của huyện Càng Long gồm Nhị Long Phú, Mỹ Cẩm, An Trường và Tân Bình; dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2011-2015 và dữ liệu sơ cấp điều tra năm 2016. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách huy động sức dân cho giai đoạn 2016-2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng nền tảng từ Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) của Ajzen và Fishbein và Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Icek Ajzen (1991). Theo hai lý thuyết này, hành vi đóng góp của cá nhân chịu sự chi phối trực tiếp bởi ý định hành vi, trong đó ý định được định hình bởi ba nhân tố cốt lõi: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan (áp lực xã hội từ gia đình, cộng đồng) và nhận thức kiểm soát hành vi (khả năng tiếp cận thông tin, nguồn lực kinh tế). Bên cạnh đó, luận văn tích hợp Khung phân tích sự tham gia của Cohen và Uphoff (1977) cùng Thang bậc tham gia của Sherry Arnstein (1969), chia sự tham gia thành ba cấp độ: không tham gia, tham gia hình thức và tham gia thực chất với 4 khâu chính gồm ra quyết định, thực hiện, hưởng lợi và giám sát đánh giá.

Bốn khái niệm nền tảng được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Hộ gia đình nông thôn theo Điều 106 Bộ luật Dân sự và khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013, xác định tư cách chủ thể có chung tài sản và cùng hoạt động sản xuất.
  2. Nông thôn mới theo Quyết định số 800/QĐ-TTg và Nghị quyết số 26-NQ/TW với hệ thống 19 tiêu chí toàn diện về hạ tầng, kinh tế, văn hóa và môi trường.
  3. Sự tham gia của cộng đồng với tư cách là chủ thể trực tiếp bàn bạc, thực hiện và kiểm tra theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
  4. Đóng góp của hộ gia đình bao gồm các nguồn lực vật chất, tài chính, ngày công lao động và tự nguyện hiến đất phục vụ công trình công cộng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2011-2015 từ Ban Chỉ đạo Nông thôn mới huyện Càng Long và dữ liệu sơ cấp điều tra trực tiếp trong năm 2016. Về quy mô mẫu, tác giả áp dụng công thức xác định cỡ mẫu hồi quy với công thức $n \ge 50 + 8m$ (với $m = 11$ biến độc lập, cỡ mẫu tối thiểu là 138 quan sát). Tác giả đã chọn mẫu khảo sát thuận tiện với 200 hộ gia đình phân bổ đều tại 4 xã đại diện (50 hộ mỗi xã tại Mỹ Cẩm, Tân Bình, An Trường, Nhị Long Phú) để đảm bảo độ tin cậy thống kê cao.

Phương pháp phân tích kinh tế lượng chủ đạo là mô hình hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logit Model). Mô hình Logit được lựa chọn vì biến phụ thuộc nhận giá trị nhị phân (nhận giá trị 1 nếu hộ có tham gia đóng góp và 0 nếu không đóng góp), cho phép khắc phục hoàn toàn nhược điểm của mô hình xác suất tuyến tính và ước lượng chính xác xác suất biên của 11 biến độc lập thuộc 4 nhóm: đặc điểm chủ hộ (giới tính, học vấn, lao động), kinh tế hộ (thu nhập bình quân, nghề nghiệp, diện tích đất), xã hội (tham gia đoàn thể, sự ủng hộ của người thân) và nhận thức (tính minh bạch của thông tin, nhận thức vai trò chủ thể).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thống kê từ 200 quan sát tại huyện Càng Long ghi nhận nhiều kết quả thực nghiệm rõ nét:

Thứ nhất, tỷ lệ tham gia đóng góp của hộ gia đình đạt 68%, trong đó cơ cấu đóng góp có sự chênh lệch lớn giữa các hình thức. Đóng góp bằng ngày công lao động chiếm tỷ trọng vượt trội với 66,9% tổng số hộ, mức đóng góp bình quân quy đổi đạt 800.000 VNĐ mỗi hộ (tương đương hơn 5 ngày công lao động). Hình thức đóng góp trực tiếp bằng tiền mặt chiếm 20,6%, với giá trị đóng góp bình quân đạt 7.000.000 VNĐ mỗi hộ (mức phổ biến nhất là 1.200.000 VNĐ). Tỷ lệ hộ hiến đất làm đường và công trình phúc lợi chỉ đạt 2,2% do đặc thù đất đai hạn hẹp.

Thứ hai, động lực tham gia đóng góp còn mang nặng tính hành chính vận động. Có tới 74% số hộ tham gia chỉ sau khi có sự vận động tích cực từ chính quyền và đoàn thể địa phương; tỷ lệ tự nguyện tham gia chủ động chỉ chiếm 19%, và vẫn còn 7% hộ tham gia với tâm lý bị bắt buộc.

Thứ ba, tồn tại khoảng trống lớn trong nhận thức về vai trò chủ thể. Có 100% người dân khảo sát cho rằng Nhà nước giữ vai trò quyết định chính trong xây dựng nông thôn mới, trong khi chỉ có 20,5% nhận thức được vai trò chính thuộc về người dân và 5,7% khẳng định vai trò nòng cốt của nông dân.

Thứ tư, chuẩn chủ quan gia đình có tác động mang tính quyết định đến hành vi. Khảo sát chỉ ra 78,5% hộ có thành viên gia đình ủng hộ chương trình. Trong nhóm được gia đình ủng hộ, có đến 91,7% đánh giá vai trò của người dân là quan trọng, trái ngược hoàn toàn với nhóm không được ủng hộ khi có tới 81,4% cho rằng sự tham gia của người dân là không quan trọng.

Thảo luận kết quả

Kết quả ước lượng mô hình Logit khẳng định các biến: sự ủng hộ của người thân, tính minh bạch thông tin, sự tham gia đoàn thể và mức thu nhập có tác động tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê cao đến xác suất đóng góp của hộ dân. Điều này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu thực nghiệm của Nugussie (2010) tại Ethiopia và Nguyễn Quốc Nghi (2012) tại An Giang về tầm quan trọng của vốn xã hội và sự đồng thuận gia đình.

Hiện tượng 100% người dân trông đợi vào Nhà nước phản ánh quán tính tâm lý từ thời kỳ bao cấp, khi các chương trình phát triển hạ tầng phần lớn dựa vào ngân sách trung ương. Kênh truyền thông cũng tạo ra sự phân hóa: 84% người dân tiếp cận thông tin nông thôn mới qua truyền hình và 94% đánh giá thông tin địa phương minh bạch, nhưng tỷ lệ tiếp nhận qua đối thoại trực tiếp từ cán bộ cơ sở chỉ đạt 3,5%. Các phát hiện này được trình bày trực quan thông qua bảng thống kê kiểm định Omnibus, bảng ma trận phân loại dự báo chính xác trên 85% và hệ thống biểu đồ thanh so sánh chéo giữa mức độ ủng hộ của gia đình và quyết định đóng góp thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng, tác giả kiến nghị 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy sự tham gia đóng góp của hộ gia đình:

Thứ nhất, chuyển đổi phương thức tuyên truyền và đối thoại chính sách. Ủy ban nhân dân các xã phối hợp cùng Ban Tuyên giáo huyện ủy Càng Long triển khai mô hình truyền thông hai chiều, tăng tỷ lệ tiếp cận thông tin trực tiếp qua cán bộ cơ sở từ 3,5% lên mức tối thiểu 25% trong giai đoạn 2017-2020. Nội dung truyền thông cần tập trung làm rõ quyền lợi thụ hưởng và trách nhiệm chủ thể của nông dân thay vì chỉ phổ biến các chỉ tiêu hành chính.

Thứ hai, thể chế hóa quyền quyết định và giám sát của cộng đồng. Ban Chỉ đạo Nông thôn mới cấp xã cần nâng tỷ lệ công trình do dân tự bàn và tự quyết định từ mức 63,6% lên trên 85% trước năm 2020. Thiết lập cơ chế bỏ phiếu kín tại các cuộc họp ấp đối với các khoản đóng góp tự nguyện, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ tự nguyện tham gia từ 19% lên trên 50%, giảm tỷ lệ miễn cưỡng xuống dưới 2%.

Thứ ba, nâng cao tính công khai, minh bạch tài chính công trình. Ban Giám sát đầu tư cộng đồng tại các xã Mỹ Cẩm, Tân Bình, An Trường và Nhị Long Phú thực hiện niêm yết 100% các khoản thu chi, dự toán, quyết toán các công trình hạ tầng tại nhà văn hóa ấp và trên hệ thống loa truyền thanh định kỳ hàng tháng, duy trì chỉ số minh bạch trên 95%.

Thứ tư, linh hoạt hóa các hình thức đóng góp theo phân tầng kinh tế hộ. Ủy ban nhân dân huyện Càng Long cần chỉ đạo các địa phương xây dựng khung đóng góp linh hoạt: ưu tiên huy động ngày công lao động đối với nhóm hộ có thu nhập bình quân dưới 2,5 triệu đồng/tháng (chiếm tỷ lệ lớn trong mẫu khảo sát), miễn giảm đóng góp tiền mặt cho 5% hộ nghèo và cận nghèo, khuyến khích các hộ khá giả đóng góp tài chính và hiện vật xây dựng công trình giao thông nông thôn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý nhà nước và thành viên Ban Chỉ đạo Chương trình Xây dựng Nông thôn mới các cấp tại tỉnh Trà Vinh và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Luận văn cung cấp căn cứ thực chứng để thiết kế các chính sách dân vận, kế hoạch huy động nguồn lực xã hội hóa sát với điều kiện thực tế của từng địa bàn ấp, xã.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Xã hội học nông thôn. Đề tài cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh kết hợp giữa lý thuyết hành vi TPB và mô hình kinh tế lượng Logit, là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu ứng dụng về kinh tế hộ và phát triển cộng đồng.

Nhóm thứ ba là học viên cao học đang thực hiện đề tài tốt nghiệp liên quan đến phát triển kinh tế địa phương. Luận văn là hình mẫu chuẩn mực về phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp với quy mô 200 mẫu, quy trình mã hóa biến số và kỹ thuật xử lý số liệu trên phần mềm thống kê chuyên ngành.

Nhóm thứ tư là lãnh đạo các tổ chức chính trị xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ hội viên phụ nữ tham gia đạt 49,4% và hội nông dân đạt 46,1%, giúp các đoàn thể định hình giải pháp nâng cao hiệu quả vận động đoàn viên phát huy vai trò tiên phong trong các phong trào thi đua tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Người dân huyện Càng Long tham gia đóng góp vào xây dựng nông thôn mới dưới hình thức nào là chủ yếu? Kết quả khảo sát 200 hộ dân cho thấy hình thức đóng góp bằng ngày công lao động chiếm tỷ trọng cao nhất với 66,9% tổng số hộ, mức đóng góp trung bình quy đổi là 800.000 VNĐ mỗi hộ (tương đương hơn 5 ngày công). Hình thức đóng góp tiền mặt chiếm 20,6% với mức bình quân 7.000.000 VNĐ mỗi hộ, trong khi tỷ lệ hiến đất chỉ đạt 2,2%.

Những yếu tố nào tác động mạnh nhất đến quyết định đóng góp của hộ gia đình? Mô hình hồi quy Logistic xác định 4 yếu tố tác động thuận chiều mạnh nhất gồm: sự ủng hộ của các thành viên trong gia đình (chuẩn chủ quan), tính minh bạch của thông tin dự án (94% hộ đánh giá cao), việc tham gia các tổ chức đoàn thể (chiếm 77% mẫu khảo sát) và mức thu nhập bình quân của hộ.

Thực trạng nhận thức của người dân về vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới như thế nào? Nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế và tồn tại tính ỷ lại. Có tới 100% người dân được khảo sát nhận định Nhà nước đóng vai trò chính, trong khi chỉ có 20,5% người dân và 5,7% nông dân tự nhận thức mình là chủ thể chính của phong trào xây dựng nông thôn mới.

Vì sao mô hình hồi quy Binary Logit được áp dụng trong đề tài này? Mô hình Logit được lựa chọn vì biến phụ thuộc là biến nhị phân chỉ nhận giá trị 0 hoặc 1 (có hoặc không tham gia đóng góp). Phương pháp này giúp khắc phục triệt để các sai số dự báo xác suất nằm ngoài khoảng 0 đến 1 của mô hình OLS truyền thống, đồng thời lượng hóa chính xác xác suất biên của 11 biến giải thích.

Vai trò của các tổ chức hội đoàn thể địa phương được thể hiện ra sao trong nghiên cứu? Các tổ chức đoàn thể giữ vai trò làm cầu nối thông tin đặc biệt quan trọng. Khảo sát cho thấy 77% hộ có thành viên tham gia đoàn thể (Hội Phụ nữ chiếm 49,4%, Hội Nông dân chiếm 46,1%). Những hộ có thành viên tham gia đoàn thể có xác suất đồng thuận và tham gia đóng góp công sức, tiền của cao hơn rõ rệt so với các hộ không tham gia.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng tham gia xây dựng nông thôn mới của 200 hộ gia đình tại 4 xã điểm huyện Càng Long, ghi nhận tỷ lệ hộ tham gia đóng góp đạt 68%, chủ yếu thông qua ngày công lao động (66,9%).
  • Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn nhận thức khi 100% người dân coi Nhà nước là chủ thể chính và 74% hộ chỉ tham gia khi có sự vận động hành chính của chính quyền.
  • Mô hình hồi quy Binary Logit đã lượng hóa thành công tác động tích cực của 11 biến số độc lập, chứng minh chuẩn chủ quan gia đình, tính minh bạch thông tin và sự tham gia đoàn thể là các động lực cốt lõi chi phối hành vi đóng góp.
  • Đóng góp khoa học lớn nhất của tác giả Lê Trường Sơn là xây dựng thành công khung phân tích thực chứng về hành vi kinh tế hộ nông thôn, cung cấp 4 nhóm giải pháp khả thi áp dụng trực tiếp cho huyện Càng Long giai đoạn 2017-2020.
  • Các cấp chính quyền địa phương cần khẩn trương đưa các khuyến nghị vào thực tiễn chỉ đạo, chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế vận động hành chính sang khơi dậy tinh thần tự nguyện làm chủ của cộng đồng cư dân nông thôn.