Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Càng Long, Trà Vinh

Luận văn thạc sĩ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Càng Long, Trà Vinh.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2017

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

1. Chương 1: GIỚI THIỆU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Kết cấu của luận văn

2. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Một số khái niệm liên quan

2.2. Hộ gia đình

2.3. Nông thôn và nông thôn mới. Nông thôn mới

2.4. Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới

2.5. Hình thức tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới

2.6. Sự tham gia của người dân thực tế ứng với các tiêu chí trong XDNTM

2.7. Vai trò hộ dân và hội đoàn thể cùng các tổ chức, vận động quần chúng tham gia phong trào XDNTM

2.8. Các yếu tố tác động lên quyết định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào xây dựng nông thôn mới

2.8.1. Nhóm nhân tố về đặc điểm hộ gia đình

2.8.2. Nhóm nhân tố về kinh tế

2.8.3. Nhóm nhân tố về xã hội

2.8.4. Nhóm nhận thức về chương trình xây dựng nông thôn mới

2.9. Tổng quan các công trình nghiên cứu

2.10. Khung phân tích đề xuất

3. Chương 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1. Sơ lược về vùng nghiên cứu. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

3.3. Cách chọn mẫu

3.4. Thu thập số liệu thứ cấp

3.5. Thu thập số liệu sơ cấp. Xác định sự tham gia của người dân vào CTXDNTM

3.6. Phương pháp nghiên cứu

3.7. Mô hình nghiên cứu

3.8. Biến phụ thuộc. Biến độc lập

4. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thống kê mô tả dữ liệu

4.2. Kết quả mô hình ước lượng

5. Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Hàm ý chính sách

5.2. Hạn chế của nghiên cứu

5.3. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Để thực hiện thành công chương trình này, cần phải hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ gia đình. Những yếu tố này không chỉ bao gồm chính sách phát triển nông thôn mà còn liên quan đến đặc điểm kinh tế, xã hội và nhận thức của người dân.

1.1. Chính sách phát triển nông thôn và vai trò của cộng đồng

Chính sách phát triển nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sự tham gia của cộng đồng. Các chính sách này cần phải phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương để phát huy tối đa tiềm năng của người dân.

1.2. Đặc điểm kinh tế và xã hội của hộ gia đình

Đặc điểm kinh tế và xã hội của hộ gia đình ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia XDNTM. Những hộ gia đình có thu nhập cao thường có khả năng đóng góp nhiều hơn cho các hoạt động xây dựng nông thôn.

II. Vấn đề và thách thức trong tham gia xây dựng nông thôn mới

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc khuyến khích sự tham gia của hộ gia đình vào XDNTM. Những thách thức này bao gồm tâm lý ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước và thiếu thông tin về chương trình.

2.1. Tâm lý ỷ lại và thiếu động lực

Nhiều hộ gia đình vẫn có tâm lý ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, dẫn đến việc không chủ động tham gia vào các hoạt động xây dựng nông thôn. Điều này cần được khắc phục thông qua các chương trình tuyên truyền và giáo dục.

2.2. Thiếu thông tin và kiến thức về XDNTM

Thiếu thông tin và kiến thức về XDNTM cũng là một trong những rào cản lớn. Cần có các chương trình đào tạo và cung cấp thông tin để người dân hiểu rõ hơn về lợi ích của việc tham gia.

III. Phương pháp khuyến khích tham gia xây dựng nông thôn mới

Để khuyến khích sự tham gia của hộ gia đình vào XDNTM, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm việc cải thiện chính sách, tăng cường giáo dục và tạo ra các mô hình hợp tác hiệu quả.

3.1. Cải thiện chính sách và cơ chế hỗ trợ

Cần cải thiện các chính sách hỗ trợ để đảm bảo rằng chúng phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân. Các cơ chế hỗ trợ cần phải minh bạch và dễ tiếp cận.

3.2. Tăng cường giáo dục và tuyên truyền

Giáo dục và tuyên truyền về XDNTM là rất quan trọng. Cần tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm để người dân có thể trao đổi và học hỏi kinh nghiệm từ nhau.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu cho thấy rằng sự tham gia của hộ gia đình vào XDNTM có thể được cải thiện thông qua các chính sách và chương trình phù hợp. Các mô hình hợp tác giữa các hộ gia đình cũng đã cho thấy hiệu quả tích cực trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống.

4.1. Mô hình hợp tác trong nông nghiệp

Mô hình hợp tác giữa các hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp đã giúp tăng cường hiệu quả sản xuất và giảm chi phí. Điều này cũng tạo ra sự gắn kết trong cộng đồng.

4.2. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ

Các chương trình hỗ trợ từ Nhà nước đã giúp nhiều hộ gia đình nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để điều chỉnh kịp thời.

V. Kết luận và tương lai của xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là một quá trình dài hạn và cần sự tham gia tích cực của cộng đồng. Tương lai của XDNTM phụ thuộc vào việc phát huy vai trò của hộ gia đình và các chính sách hỗ trợ hiệu quả.

5.1. Tầm quan trọng của sự tham gia cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quyết định cho sự thành công của XDNTM. Cần khuyến khích người dân chủ động tham gia vào các hoạt động xây dựng.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Cần có các định hướng phát triển bền vững để đảm bảo rằng các hoạt động XDNTM không chỉ mang lại lợi ích trước mắt mà còn đảm bảo sự phát triển lâu dài cho cộng đồng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện càng long tỉnh trà vinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, Nghị định 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2014 của Chính Phủ Việt Nam ). Theo Trần Tiến Khai, (2015), sự khác biệt ở khía cạnh không gian, lãnh thổ, điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của vùng nông thôn so với thành thị được thể hiện qua các đặc trưng riêng biệt tổng quát sau: Dân số: Ở nông thôn có quy mô dân số, mật độ thấp, dân cư sống rãi rác, thưa thớt. Không gian lãnh thổ: Nông thôn có lãnh thổ rộng lớn, nhiều vùng địa lý đa dạng. Điều kiện tự nhiên: Nông thôn là vùng không gian mở, đa dạng điều kiện tự nhiên, đát , nước, rừng, khí hậu, sinh cảnh môi trường.

Nông thôn là nơi có nguồn tài nguyên tự nhiên sinh học, tính đa dạng sinh học cao, phong phú về sinh thái và cảnh quan thien nhiên đẹp. Hoạt động kinh tế: Ở nông thôn chủ yếu sản xuất nông nghiệp: các hoạt động sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và gắn với các điều kiện tự nhiên. Thu nhập nông thôn thấp: Hoạt động kinh tế kém đa dạng, tính rủi ro cao, lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị chênh lệch khá lớn. Hạ tầng cơ sở kỹ thuật: Nông thôn có hệ thống giao thông, bến cảng, kho bãi, cơ sở hạ tầng, viễn thông liên lạc còn yếu kém phát triển.

Hạ tầng xã hội: Ở nông thôn còn kém phát triển, hệ thống cơ sở dịch vụ công cho giáo dục, y tế còn hạn chế. Mặt bằng dan trí thấp. Văn hóa: Nông thôn mang nét văn hóa truyền thống và bản địa, các phong tục, tập quán cổ truyền mang tính đặc thù theo từng địa phương. Theo Ellis và Biggs (2001), Nimal (2008) đều cho rằng khái niệm phát triển nông thôn đã có nhiều thay đổi qua các thập kỷ.

Quan điểm phát triển nông thôn thay đổi qua nhiều thập kỷ: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Thập niên 50 - 60 mục tiêu chính PTNT chỉ là phát triển SXNN nhằm cải thiện điều kiện sống, tăng thu nhập, phát triển sao cho phù hợp các nguồn lực. Thập niên 1970, giai đoạn này đề cập đến chính sách phát triển chủ yếu tập trung tăng cường phát triển SXNN dưới dạng nông nghiệp quy mô nhỏ. Từ thập niên 1970 trở đi hoạt động phát triển tổng hợp từ nhiều ngành kinh tế như: Nông nghiệp, thương mại, công nghiệp so với trước đó thì phát triển tổng hợp chỉ tập trung vào người nghèo. Thập niên 80 - 90, tiếp cận PTNT từ trên xuống, với đặc trưng công nghệ từ bên ngoài và chính sách ở cấp độ quốc gia thay đổi theo hướng ngược lại từ dưới lên (còn gọi là tiếp cận"quá trình", nhấn mạnh việc trao quyền cho dân).

Từ 2000 đến nay PTNT gắn với mục tiêu giảm nghèo, dựa trên tiếp cận lý thuyết sinh kế bền vững, việc giảm nghèo là trọng tâm cốt yếu, khuynh hướng tiếp cận từ hướng nghèo đơn chiều sang tiếp cận nghèo đa chiều. Theo Dower (2001) có định nghĩa sau: “ Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bền vững, có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương”. Theo Lazdinis (2006) cho rằng khái niệm phát triển nông thôn đươc cộng đồng châu Âu xem là quan điểm mới thể hiện ở các mục tiêu về cải thiện năng lực cạnh tranh của nông lâm nghiệp bằng cách hỗ trợ việc tái cấu trúc, phát triển và đỏi mới; mục tiêu về cải thiện môi trường và cảnh quan nông thôn qua việc hỗ trợ quản lý đất đai; mục tiêu cải thiện chất lượng đời sống nông thôn, khuyến khích đa dạng hóa sinh kế. Theo USA (2006) định nghĩa phát triển nông thôn là “cải thiện các điều kiện của cộng đồng nông thôn một cách tổng thể, bao gồm kinh tế và chất lượng cuốc sống ở các phương diện khác như môi trường, sức khỏe, cơ sở hạ tầng và nhà ở.

IFAD (2009) dựa trên quan điểm lãnh thổ đề xuất khái niệm phát triển nông thôn dựa vào CĐ, đề cao sự tự chủ của CĐ trong tiến trình phát triển nông thôn. Theo Nimal (2008) diễn giải rằng mô hình Phát triển nông thôn dành cho mọi người được bao gồm ba phương diện kinh tế, xã hội và chính trị tạo ra năng lực và cơ hội đẻ tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển, tạo ra năng lực và cơ hội để tham gia vào quá trình chính trị, phát triển xã hội toàn diện. Theo tổ chức hợp tác phát triển kinh tế OEDC (2007) thì việc phát triển nông thôn có ba phương diện: Lãnh thổ, chủ đề phát triển & thời gian. Phương diện lãnh thổ tương ứng với không gian, phát triển nông thôn là một khái niệm thuộc về không gian, khái niệm đa ngành và có liên quan đến vấn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 đề nhân khẩu học, kinh tế, xã hội và môi trường.

điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của tính tổng hợp theo chiều ngang, phối hợp giữa các ngành các họt động và chính sách. Phương diện thời gian thì khái niệm này mang tính động. Theo Trần Tiến Khai, (2015), nói một cách khác hơn các khái niệm hiện đại về phát triển nông thôn chú trọng gần như bốn vấn đề cốt lõi như sau: Về kinh tế: Phát triển một nông thôn đa dạng hóa nghề nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội công ăn việc làm, tạo ra giá trị gia tăng cho vùng. Về Văn hóa - xã hội: Gìn giữ lưu truyền, tái hiện, xây dựng nét văn hóa truyền thống đậm chất tôn vinh tinh thần cội nguồn dân tộc dựa trên các nền tảng xã hội.

Về chính trị và thế chế: Đảm bảo quyền tự chủ, sở hữu cộng đồng, đảm bảo cơ chế phân quyền và thể chế hóa sự tham gia công chúng, tính trật tự an ninh chính trị, cơ chế gọn nhẹ đáp ứng nguyện vọng mong đợi của công chúng, thúc đẩy được sự tự chủ trong việc năm bắt các cơ hội tiếp cận công bằng các quyền lợi trong hầu hết các dịch vụ. Về Môi trường: Phát triển nông thôn với sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo việc quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên mang tính bền vững nhất định nhằm tạo ra các thỏa ước sử dụng mang tính công cộng. Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn. Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lí của xã hội học nông thôn - đô thị.

Trong đó, những tiêu chí quan trọng giúp cho việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005). Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn.

Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định vì vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị. Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Hội nghị nhóm chuyên viên của Liên Hiệp Quốc đã đề cập đến một khái niệm CONTIUM nông thôn - đô thị. Có thể hiểu nông thôn - đô thị là một khu vực kinh tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen kẻ nhau.

Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như cầu nối giữa nông thôn và thành thị, còn thành thị là các thành phố lớn, vừa, hoặc các khu công nghiệp tập trung (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005). Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới gốc độ quản lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005).

Theo Hoàng Văn Định và Vũ Đình Thắng (2002), nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn. Người nông dân Việt Nam có trình độ dân trí chưa cao, trình độ tiếp cận với công nghệ còn thấp gắn với nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, sản xuất tự cấp tự túc và kỹ thuật canh tác còn nhiều lạc hậu. Về phương diện kinh tế, nông thôn bao gồm cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức và thể chế, công nghệ và hạ tầng cơ sở (Đỗ Kim Chung, 2009). Nông thôn chủ yếu với kinh tế nông nghiệp và đây là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.

Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản. Theo nghĩa rộng, nông nghiệp còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ