CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện trên Thế giới và Việt Nam từ đó đưa ra những nhận xét và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Các nghiên cứu trên Thế giới Công nghệ thông tin (CNTT) đã trở thành nhân tố quan trọng, là cầu nối trao đổi giữa các thành phần của xã hội toàn cầu, của mọi vấn đề, và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội trong thời đại ngày nay. Việc nhanh chóng đưa ứng dụng CNTT vào quá trình tự động hóa trong sản xuất kinh doanh là vấn đề đã, đang, và sẽ luôn được quan tâm bởi lẽ CNTT có vai trò rất lớn trong các hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh, bán hàng, xúc tiến thương mại, quản trị doanh nghiệp.
Sự hiện diện của công nghệ máy tính và thông tin trong các tổ chức hiện nay đã mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, các công nghệ phải được chấp nhận và sử dụng bởi các nhân viên trong trong tổ chức. Giải thích về vấn đề chấp nhận và sử dụng công nghệ được xem như một trong những lĩnh vực nghiên cứu hoàn thiện nhất về hệ thống thông tin (Hu và cộng sự, 1999). Nghiên cứu trong lĩnh vực này dẫn đến hình thành một số mô hình lý thuyết có thể giải thích trên 40% về ý định của các cá nhân để sử dụng công nghệ (ví dụ: Davis.D, 1989; Taylor và Todd, 1995b; Venkatesh và Davis, 2000).
Từ lâu đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu làm thế nào và tại sao các cá nhân chấp nhận và áp dụng công nghệ mới. Một xu hướng nghiên cứu tập trung vào việc chấp nhận công nghệ của cá nhân bằng cách xem ý định hoặc sử dụng như là một biến phụ thuộc (Compeau và Higgins, 1995; Davis. Theo Ajzen (1991, tr.181) ý định được xem là “bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân, các yếu tố này cho thấy được mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”. Có nhiều mô hình chấp nhận phần mềm CNTT khác nhau đã được phát triển: Thuyết hành động hợp lý (TRA) được đề xuất bởi Fishbein và Ajzen (1975) là mô hình nghiên cứu theo quan điểm tâm lý xã hội nhằm xác định các yếu tố của xu hướng hành vi có ý thức; Lý thuyết hành vi dự định (TPB) phát triển bởi Ajzen (1991) được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 xây dựng từ các lý thuyết gốc TRA, bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi; Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1998) dựa trên nền tảng của lý thuyết TRA cho việc thiết lập các mối quan hệ giữa các biến để giải thích hành vi của con người về việc chấp nhận sử dụng hệ thống thông tin; Lý thuyết chấp nhận sự đổi mới (IDT) giải thích quá trình đổi mới trong công nghệ được chấp nhận bởi người dùng… Các nhà nghiên cứu đang phải đối mặt với một sự lựa chọn trong vô số các mô hình đã có, dẫn đến nhu cầu về một mô hình có thể đánh giá và tổng hợp để tiến tới một quan điểm thống nhất về sự chấp nhận công nghệ của người dùng.
Mô hình Thuyết hợp nhất về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) bởi Venkatesh và cộng sự (2003) là một kết hợp có chọn lọc từ tám mô hình chấp nhận nổi bật: Thuyết hành động hợp lý (TRA); Thuyết hành vi dự định (TPB); Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM/TAM2); Mô hình động cơ thúc đẩy (MM); Mô hình kết hợp TAM và TPB (C-TAM-TPB); Mô hình của việc sử dụng máy tính cá nhân (Model of PC Utilization); Thuyết phổ biến sự đổi mới (IDT); Thuyết nhận thức xã hội (SCT). Mô hình UTAUT tập trung vào làm thế nào để giải thích ý định của người dùng sử dụng một hệ thống thông tin và ý định hành vi tiếp theo. Mô hình UTAUT xác định bốn yếu tố quyết định trực tiếp về ý định sử dụng và hành vi thực tế là hiệu suất mong đợi, tính dễ sử dụng, ảnh hưởng xã hội và điều kiện hỗ trợ. Năm 2012, Venkatesh và cộng sự bổ sung vào mô hình UTAUT thêm 3 biến ảnh hưởng đến ý định sử dụng: thói quen, giá trị giá cả, động lực hưởng thụ để xây dựng nên mô hình UTAUT2.
Thời gian gần đây, ý định sử dụng phần mềm nói chung và phần mềm kế toán nói riêng đã được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực thông qua mô hình TAM, UTAUT và UTAUT2 tại nhiều nước trên thế giới: Nghiên cứu “Library Periodical Indexing Software Evaluation using Unified Theory of Acceptance and Use of Technology” của Santos-Feliscuzo và Himang (2011) trình bày sự chấp nhận của phần mềm chỉ mục thư viện định kỳ theo lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) bởi Venkatesh và bổ sung thêm biến chất lượng kỹ thuật tác động đến ý định sử dụng. Có 171 người trả lời khảo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 sát, 93% trong số đó là sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố hiệu quả mong đợi, tính dễ sử dụng, điều kiện hỗ trợ, ảnh hưởng của xã hội và chất lượng kỹ thuật đều ảnh hưởng đến sự chấp nhận và sử dụng phần mềm chỉ mục thư viện định kỳ. Nghiên cứu “An empirical study of Accounting software Acceptance among Bengkulu City students” của Sriwidharmanely và Vina Syafrudin (2012) đã phân tích sự chấp nhận phần mềm kế toán của sinh viên kế toán thông qua sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ (TAM).
Bài nghiên cứu đo lường ảnh hưởng của các biến tính dễ sử dụng, tính hữu ích cảm nhận, thái độ sử dụng đến biến ý định hành vi sử dụng, từ đó tác động đến hành vi sử dụng thực tế. Mẫu khảo sát của nghiên cứu này là 162 sinh viên kế toán tại Bengkulu, Indonesia. Kết quả cho thấy tính dễ sử dụng ảnh hưởng đáng kể đến tính hữu ích cảm nhận, đồng thời tính hữu ích cảm nhận có một tác động tích cực đáng kể đến ý định sử dụng và ý định sử dụng có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng thực tế của phần mềm kế toán. Mục tiêu bài nghiên cứu “Preservice Teachers’ Acceptance of Learning Management Software: An Application of the UTAUT2 Model” của Arumugam Raman và Yahya Don (2013) là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận và sử dụng phần mềm quản lý học tập thông qua mô hình UTAUT2 của Venkatesh (2012).
Mô hình UTAUT2 (2012) ngoài bốn yếu tố của mô hình UTAUT (2003) là hiệu quả mong đợi, tính dễ sử dụng, ảnh hưởng của xã hội, điều kiện hỗ trợ còn có bổ sung thêm ba yếu tố là động lực hưởng thụ, giá cả và thói quen. Tuy nhiên, trong bối cảnh giáo dục, sinh viên không chịu trách nhiệm về chi phí của việc sử dụng phần mềm quản lý học tập, do đó, cảm nhận giá cả là không thích hợp, sẽ không được đo lường trong bài nghiên cứu này. Bảng câu hỏi khảo sát phát triển từ bảng khảo sát của Venkatesh (2012) được gửi trực tuyến trên Google tới các đối tượng khảo sát là 280 sinh viên một trường đại học ở Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả mong muốn, tính dễ sử dụng, ảnh hưởng của xã hội, động lực hưởng thụ, điều kiện hỗ trợ có tác động tích cực đến ý định sử dụng; trong khi điều kiện hỗ trợ và ý định sử dụng có tác động đến hành vi sử dụng phần mềm quản lý học tập.
Ngược lại, thói TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 quen tác động không đáng kể. Lý do có thể vì bối cảnh nghiên cứu là trong giáo dục, sử dụng phần mềm vì mục đích học tập chứ không được xem là thói quen của sinh viên. Bài nghiên cứu này là cơ sở cho việc áp dụng mô hình UTAUT2 thành công trong việc nghiên cứu về ý định và chấp nhận phần mềm. Mục đích của nghiên cứu “Predicting Sme’s Intention to Adopt Accounting Software for Financial Reporting in Medan City, Indonesia” của Rini Indahwati và Nunuy Nur Afiah (2014) là điều tra việc áp dụng phần mềm kế toán để chuẩn bị báo cáo tài chính của các DNNVV tại thành phố Medan, Indonesia, thông qua sử dụng mô hình UTAUT của Venkatesh (2003).
Theo tác giả, đây là một nghiên cứu rất cấp thiết, vì các DNVVN tại Indonesia hầu hết đang xin viện trợ chứ không tiếp cận được nguồn vốn từ bên ngoài, đặc biệt là từ quỹ tín dụng của ngân hàng vì lý do họ không có đủ khả năng để lập các báo cáo tài chính. Sẽ có rất nhiều lợi ích đem lại cho DNNVV nếu báo cáo tài chính được lập từ các phần mềm, thay vì lập từ hệ thống thủ công phức tạp. Dễ dàng có được các thông tin kế toán bằng việc áp dụng CNTT vì ngày nay, trên thị trường có rất nhiều loại phần mềm kế toán được cung cấp để giúp quản lý ra quyết định nhanh hơn. Kết quả của nghiên cứu cho thấy biến hiệu quả mong đợi, tính dễ sử dụng và ảnh hưởng của xã hội có ảnh hưởng đến ý định sử dụng PMKT.
Và biến ý định sử dụng PMKT và điều kiện hỗ trợ có ảnh hưởng đến hành vi sử dụng phần mềm kế toán trong báo cáo tài chính của DNNVV. Nghiên cứu “Determinants of acceptance of ERP software training in business schools: Empirical investigation using UTAUT model” của Sumedha Chauhan, Mahadeo Jaiswal (2015) được thực hiện để xác định những nhân tố quyết định sự chấp nhận đào tạo phần mềm ERP. Nghiên cứu này mở rộng mô hình UTAUT bằng cách tích hợp với các khái niệm của sự tiện lợi từ truy cập trực tuyến và sáng kiến cải tiến trong công nghệ thông tin. Số liệu điều tra được thu thập từ 324 sinh viên kinh doanh đã trải qua đào tạo phần mềm ERP trong hơn 2 năm tại Ấn Độ, để đảm bảo rằng những người khảo sát đã nhận thức được đúng vấn đề nghiên cứu về đào tạo phần mềm ERP.
Kết quả cho thấy sự tiện lợi từ truy cập trực tuyến, sáng kiến cải tiến trong công nghệ thông tin, hiệu suất mong đợi, và tính dễ sử dụng có tác động tích TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 cực đến ý định sử dụng của sinh viên, trong khi điều kiện hỗ trợ và ý định hành vi sử dụng tác động tích cực hành vi sử dụng. Yếu tố ảnh hưởng của xã hội không tác động đến hành vi ý định của sinh viên. Như vậy, kết quả của nghiên cứu này phần nào khẳng định tính hợp lệ của các mô hình UTAUT trong bối cảnh đào tạo phần mềm ERP.