Chương 1: Tổng quan về để tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết – mô hình nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT – MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết hành vi tiêu dùng và xu hƣớng lựa chọn của khách hàng cá nhân 2.1 Khái niệm hành vi tiêu dùng Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra hành vi của ngƣời tiêu dùng là khó dự đoán, ngay cả đối với các chuyên gia trong lĩnh vực này. Armstrong (1991) cho rằng hành vi của ngƣời tiêu dùng liên quan đến tâm lý ngƣời tiêu dùng, nhu cầu của ngƣời tiêu dùng và quyết định tiêu dùng. Cách thức cá nhân hoặc tổ chức lựa chọn sản phẩm, dịch vụ chính là hành vi tiêu dùng (Kuester và Sabine, 2012).
Mô hình EKB (Engel và cộng sự, 1978) đã chỉ ra rằng hành vi ngƣời tiêu dùng là một quá trình liên tục bao gồm việc nhận ra nhu cầu, thu thập thông tin, xem xét các lựa chọn, quyết định mua và đánh giá sau khi mua. Tiếp sau đó, Engel và cộng sự (1995) đã phát triển thêm khái niệm ý định mua hàng, theo đó có thể đƣợc chia thành: mua hàng không có ý định, mua hàng có ý định một phần và mua hàng có ý định toàn phần. Mua hàng không có ý định tức là khi khách hàng mua một món hàng theo một thói quen thông thƣờng. Mua hàng có ý định một phần tức là khách hàng chỉ quyết định về chức năng và đặc điểm của sản phẩm.
Tuy nhiên việc chọn lựa thƣơng hiệu, chủng loại nào đó sẽ đƣợc quyết định sau khi đến cửa hàng. Mua hàng có ý định toàn bộ là việc khách hàng sẽ quyết định mua sản phẩm của thƣơng hiệu nào trƣớc khi bƣớc vào cửa hàng. Thực chất của quá trình nghiên cứu hành vi tiêu dùng là đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi: ngƣời tiêu dùng mua sản phẩm bằng cách nào, họ mua những sản phẩm gì, khi nào và tại sao họ mua, hành vi tiêu dùng của khách hàng bị chi phối ở mức độ khác nhau bởi các yếu tố: văn hóa, xã hội, hoàn cảnh cá nhân và các yếu tố thuộc về tâm lý (Hoyer, 2007). Nghiên cứu hành vi tiêu dùng là cần thiết để hiểu rõ hành vi tiêu dùng.
Nghiên cứu hành vi của ngƣời tiêu dùng là nhằm giải thích quá trình mua hay không mua một loại hàng hóa nào đó. Một trong những cách để phân tích hành vi ngƣời tiêu dùng là đo lƣờng xu hƣớng tiêu dùng của khách hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khái niệm xu hƣớng tiêu dùng Theo từ điển tiếng Việt (Viện khoa học xã hội Việt Nam năm 1992 - trang 1135), “Xu hƣớng” có nghĩa là xu thế thiên về một chiều nào đó. Sự thiên về những hoạt động nào đó nhằm một mục tiêu có ý nghĩa đối với bản thân trong một thời gian lâu dài.
Xu hƣớng tiêu dùng nghĩa là sự nghiêng theo chủ quan của ngƣời tiêu dùng về một sản phẩm, thƣơng hiệu nào đó, và nó đã đƣợc chứng minh là yếu tố then chốt để dự đoán hành vi ngƣời tiêu dùng (Fishbein và Ajzen, 1975). Theo Triandis (1979), xu hƣớng hành vi là sự hƣớng dẫn mà con ngƣời tự đƣa ra cho mình để thực hiện hành vi theo một cách cụ thể nào đó. Vì quá trình ra quyết định mua hàng thƣờng phải trải qua nhiều giai đoạn, nên trƣớc khi bắt đầu thực hiện một chiến dịch tiếp thị cho sản phẩm mới hay cũ, một điều rất quan trọng là các doanh nghiệp phải biết sơ bộ về diện mạo và đặc điểm khách hàng, cái mà sẽ giúp các doanh nghiệp thu hút và giữ đƣợc khách hàng, đó chính là nghiên cứu hành vi tiêu dùng của khách hàng.3 Xu hƣớng lựa chọn của khách hàng cá nhân Kotler (2003) đề xuất rằng, thái độ cá nhân và những tình huống không đƣợc dự đoán trƣớc sẽ ảnh hƣởng đến xu hƣớng mua hàng. Ví dụ, khi mức giá cao hơn mức giá dự kiến.
Xu hƣớng mua hàng đƣợc xem nhƣ là một ý niệm khách quan đối với sản phẩm, là một tiêu chí quan trọng trong việc dự đoán hành vi tiêu dùng (Fishbein và Ajzen, 1975). Theo Kotler (2005), xu hƣớng mua của ngƣời tiêu dùng phụ thuộc vào 2 yếu tố đó là yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong.1: Xu hƣớng mua của ngƣời tiêu dùng Nguồn: Kotler, 2005 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Có một sự tƣơng ứng giữa thuật ngữ “xu hướng tiêu dùng” nói chung và “xu hướng chọn”, vì cả 2 đều hƣớng đến hành động chọn sử dụng một sản phẩm/dịch vụ hoặc một thƣơng hiệu (Phạm Thị Tâm và Phạm Ngọc Thúy, 2010). Trong mô hình nghiên cứu này, xu hƣớng hành vi là xu hƣớng của lựa chọn ngân hàng của khách hàng cá nhân. Theo Kotler (1997), quyết định của ngƣời tiêu dùng về việc lựa chọn sản phẩm, dịch vụ thƣờng trải qua 5 giai đoạn khác nhau đƣợc mô tả trong hình 2.
Năm giai đoạn này có liên quan mật thiết với nhau. Trong tiến trình ra quyết định mua, ngƣời tiêu dùng không nhất thiết phải trải qua đủ cả 5 giai đoạn hoặc theo thứ tự mà có thể hoán chuyển một vài giai đoạn.2: Mô hình hành vi của ngƣời tiêu dùng Nguồn: Kotler (1997) 2.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến lựa chọn ngân hàng 2.1 Nhận biết thƣơng hiệu Theo Keller (1998), nhận biết thƣơng hiệu liên quan đến sức mạnh của thƣơng hiệu trong bộ nhớ, nhƣ đƣợc phản ánh bởi khả năng của ngƣời tiêu dùng để xác định các thƣơng hiệu trong các điều kiện khác nhau. Nhận biết thƣơng hiệu bao gồm: (1) nhận diện thƣơng hiệu phản ánh khả năng của ngƣời tiêu dùng nhận diện đƣợc thƣơng hiệu mà không cần gợi ý và (2) nhớ lại thƣơng hiệu phản ánh khả năng của ngƣời tiêu dùng nhận diện thƣơng hiệu trong một loạt các sản phẩm cùng loại của nhiều thƣơng hiệu khác nhau hoặc khách hàng đƣợc một số gợi ý nào đó. Nhận thức về thƣơng hiệu có thể đƣợc mô tả theo chiều sâu và chiều rộng.
Độ sâu của nhận thức thƣơng hiệu liên quan đến khả năng (độ mạnh) các thƣơng hiệu có thể đƣợc nhận diện, bề rộng của nhận thức thƣơng hiệu liên quan đến sự đa dạng của các tình huống thƣơng hiệu đi vào tâm trí khách hàng khi mua hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Khách hàng thƣờng chọn những sản phẩm của thƣơng hiệu mà đã thân quen và ƣa thích. Thƣơng hiệu có độ nhận biết thƣơng hiệu càng cao thì càng có nhiều khả năng đƣợc lựa chọn. Điều này lý giải tại sao một sản phẩm, dịch vụ có độ nhận biết thƣơng hiệu cao thì cũng chiếm thị phần lớn hơn và đƣợc đánh giá chất lƣợng tốt hơn so với các đối thủ khác.
Mức độ nhận biết thƣơng hiệu nói lên khả năng một ngƣời tiêu dùng có thể nhận dạng và phân biệt những đặc điểm của một thƣơng hiệu trong một tập các thƣơng hiệu có mặt trên thị trƣờng. Khi một ngƣời tiêu dùng quyết định mua một thƣơng hiệu đó thì họ phải nhận biết đƣợc thƣơng hiệu đó (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2002).2 Chất lƣợng dịch vụ Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo lƣờng CLDV. CLDV là một khái niệm gây nhiều chú ý và tranh cãi trong các tài liệu nghiên cứu bởi vì các nhà nghiên cứu gặp nhiều khó khăn trong việc khái niệm và đo lƣờng CLDV mà không hề có sự thống nhất nào. CLDV là một khái niệm đã đƣợc sự quan tâm và tranh luận của rất nhiều nhà nghiên cứu vì không có sự đồng thuận chung trong việc khái niệm và đo lƣờng nó (Wisniewski, 2001).
Theo Svensson (2002), CLDV thể hiện trong quá trình tƣơng tác giữa khách hàng và nhân viên của nhà cung cấp dịch vụ. Gronroos (1990) cho rằng dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tƣơng tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ - nơi giải quyết những vấn đề của khách hàng. Tuy nhiên, khi nói đến CLDV không thể không đề cập đến đóng góp to lớn của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988). Họ cho rằng CLDV là khoảng cách chênh lệch giữa sự kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả khi sử dụng dịch vụ.
Các tác giả này đã khởi xƣớng và sử dụng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm để xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần của CLDV (gọi là thang đo SERVQUAL). Thang đo SERVQUAL đƣợc điều chỉnh và kiểm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Thái độ đối với chiêu thị Thái độ với chiêu thị dùng để biểu hiện trạng thái thích, không thích, hào hứng đối với chƣơng trình chiêu thị của một sản phẩm, thƣơng hiệu. Vai trò của hoạt động chiêu thị trong kinh doanh dịch vụ ngân hàng cũng quan trọng nhƣ bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào khác, đó là phƣơng tiện để ngân hàng chuyển tải thông tin đến khách hàng và ngƣợc lại để tiếp nhận các ý kiến phản hồi thông qua các phƣơng tiện truyền thông là quảng cáo, khuyến mãi, bán hàng trực tiếp.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2002), nếu có thái độ với hoạt động chiêu thị của ngân hàng tốt thì sẽ ảnh hƣởng đến ham muốn thƣơng hiệu của ngƣời tiêu dùng, khi đó khách hàng sẽ nhận biết đƣợc sự hiện diện của sản phẩm và khi có nhu cầu, khả năng lựa chọn đối với sản phẩm của thƣơng hiệu là khá cao.4 Ảnh hƣởng của xã hội Ảnh hƣởng của xã hội là ông, bà, cha, mẹ, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp, đối tác những ngƣời này thích hay không thích họ sử dụng dịch vụ. Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hƣớng mua của ngƣời tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ hay phản đối việc mua của ngƣời tiêu dùng và (2) động cơ của ngƣời tiêu dùng làm theo mong muốn của những ngƣời có ảnh hƣởng đó (Fisbein và Ajzen, 1975).5 Lợi ích tài chính Lợi ích tài chính ở đây đƣợc diễn đạt thông qua lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay và phí dịch vụ ngân hàng. Theo định nghĩa của Smartfinance, lãi suất cho vay là số tiền mà ngƣời vay phải trả để đƣợc sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức ngƣời cho vay có đƣợc đối với việc trì hoãn chi tiêu.