Lời mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận về lợi nhuận của doanh nghiệp ngành Bất động sản Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Giải pháp và khuyến nghị 3 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN SÀN HOSE 2.1 Cơ sở lý luận về lợi nhuận doanh nghiệp 2.1 Những vấn đề cơ bản về lợi nhuận doanh nghiệp Theo chuẩn mực kế toán số 145, lợi nhuận là tiền hoặc các khoản tương đương tiền mà các nhân hoặc doanh nghiệp nhận được khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay tiền thu được từ các khoản đầu tư tài chính. Trên góc nhìn của doanh nghiệp, lợi nhuận là khoản thu nhập còn lại của doanh thu từ các hoạt động của doanh nghiệp sau khi trừ hết các khoản chi phí bỏ ra để tạo ra doanh thu, các khoản thuế và nghĩa vụ phải trả với ngân sách Nhà nước. Công thức: Lợi nhuận sau thuế = Doanh thu – Chi phí – Thuế Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tùy theo các lĩnh vực đầu tư khác nhau, lợi nhuận cũng được tạo ra từ nhiều hoạt động khác nhau, bao gồm ba hoạt động chính như sau: Thứ nhất, hoạt động sản xuất kinh doanh: đây là hoạt động sản xuất tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của các ngành sản xuất kinh doanh chính và sản xuất kinh doanh phụ.
Thứ hai, hoạt động tài chính: đây là hoạt động đầu tư về vốn và đầu tư về tài chính ngắn hạn, dài hạn với mục đích kiếm lời như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, mua bán ngoại tệ… Thứ ba, hoạt động bất thường: đây là hoạt động diễn ra không thường xuyên, không dự tính trước hoặc có dự tính trước nhưng ít khả năng thực hiện như giải quyết vấn đề xẻ lý tài sản thừa, thiếu chưa rõ nguyên nhân… Xuất phát từ các hoạt động chính, lợi nhuận của doanh nghiệp thông thường được cấu thành bởi ba bộ phận sau: 4 Một là, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí của hoạt động đó bao gồm toàn bộ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ đã thực hiện và thuế phải nộp theo quy định (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp). Doanh thu thuần là toàn bộ số tiền bán thành phẩm, hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường sau khi trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại (nếu có chứng từ hợp lệ). Ngoài ra, trong doanh thu còn bao gồm các khoản trợ giá, phụ thu theo quy định của Nhà nước, giá trị sản phẩm, hàng hóa đem biếu tặng hoặc tiêu dùng nội bộ.
Các chi phí của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bao gồm giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Ta có thể khái quát lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo công thức sau: Lợi nhuận từ hoạt động doanh thu thuần = - Trị giá vốn hàng bán – Chi phí bán hàng – Chi phí quản lý doanh nghiệp Hai là, lợi nhuận từ hoạt động tài chính. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa thu nhập hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ xác định. Công thức xác định như sau: Lợi nhuận từ hoạt động tài chính = Doanh thu hoạt động tài chính – Chi phí hoạt động tài chính – Thuế gián thu (nếu có) Trong đó, thu nhập hoạt động tài chính là khoản thu do doanh nghiệp tiến hành các hoạt động đầu tư tài chính hoặc kinh doanh vốn đem lại, bao gồm hoạt động góp vốn liên doanh liên kết, đầu tư chứng khoán, thu nhập từ việc cho thuê tài sản, thu lãi tiền gửi.
Chi phí hoạt động tài chính là các khoản chi phí cho các hoạt động đầu tư tài chính và các chi phí liên quan đến hoạt động về vốn gồm chi phí về liên doanh không tính vào 5 giá trị vốn góp, lỗ liên doanh, lỗ do bán chứng khoán, chi phí đầu tư tài chính, chi phí liên quan đến vay vốn, chi phí liên quan đến việc mua bán ngoại tệ, chi phí khấu hao tài sản cố định, thuê tài chính. Ba là, lợi nhuận từ hoạt động bất thường. Lợi nhuận từ hoạt động bất thường là số chênh lệch giữa thu nhập bất thường và chi phí hoạt động bất thường. Công thức được xác định như sau: Lợi nhuận bất thường = Doanh thu từ hoạt động bất thường – Chi phí hoạt động bất thường Trong đó, doanh thu hoạt động bất thường là những khoản thu mà doanh nghiệp không dự tính trước và không xảy ra một cách thường xuyên, bao gồm thu về thanh lý tài sản cố định, nhượng bán tài sản cố định; thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng; thu tiền bảo hiểm được bồi thường; thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí kỳ trước; khoản nợ phải trả nay mất chủ được ghi tăng thu nhập; thu các khoản thuế được giảm, được hoàn lại và các khoản thu khác.
Chi phí hoạt động bất thường là những khoản chi phí hoạt động do nguyên nhân khách quan xảy ra như tiền bị phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản ghi nhầm sổ sách kế toán… Sau khi đã xác định lợi nhuận của các hoạt động, tổng hợp lại ta được lợi nhuận trước và sau thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: Lợi nhuận trước thuế TNDN = Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh + Lợi nhuận hoạt động tài chính + Lợi nhuận hoạt động bất thường Lợi nhuận sau thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế TNDN – Thuế TNDN Tuy nhiên, tỷ trọng của mỗi bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi nhuận có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp do các lĩnh vực kinh doanh khác nhau cũng như môi trường kinh doanh khác nhau, điều này được thể hiện như sau: Có sự khác nhau giữa cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường với doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tín dụng: với doanh nghiệp 6 thông thường, hoạt động sản xuất kinh doanh tách biệt với hoạt động tài chính. Do đó, cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp thông thường gồm ba bộ phận: lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động bất thường. Trong ba bộ phận trên thì lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất, trong khi đó, khác với các doanh nghiệp thông thường, cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tài chính thì bao gồm hai bộ phận là lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động bất thường. Ở các doanh nghiệp này, lợi nhuận tử hoạt động tài chính chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng lợi nhuận do họ thực hiện chức năng kinh doanh hàng hoá đặc biệt là kinh doanh tiền tệ nên hoạt động tài chính cũng là hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, trong các môi trường kinh doanh khác nhau các doanh nghiệp cùng loại có sự khác biệt về tỷ trọng các bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi nhuận của mình, chẳng hạn trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường cơ cấu bao gồm ba bộ phận. Khi nền kinh tế thị trưởng phát triển đến trình độ cao, hoạt động tài chính, hoạt động thị trưởng chứng khoán diễn ra sôi nổi, hiệu quả thì tất nhiên hoạt động tài chính của doanh nghiệp cũng được phát triển, lúc này lợi nhuận từ hoạt động tài chính cũng thêm một tỷ trọng đáng kể không kém gì lợi nhuận tử hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, khi nền kinh tế thị trưởng còn ở trình độ thấp hoạt động tài chính, chứng khoán chưa phát triển nền hoạt động tại chính của doanh nghiệp sẽ rất hạn chế. Vì vậy, lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận doanh nghiệp, nó đóng vai trò quyết định đến mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Tóm lại, thông qua phân tích cơ cấu lợi nhuận giúp doanh nghiệp xác định được phần lợi nhuận nào chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó tập trung tìm ra nguyên nhân để xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp, trong điều kiện các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, hoạt động tài chính còn rất hạn chế, hoạt động bất thường xay ra không thường xuyên và cũng không quan trọng như bản chất của nó do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động chính 7 tạo ra hầu hết lợi nhuận cho doanh nghiệp, chính vì vậy, mục đích của đề tài này là tập trung nghiên cứu và tìm ra các giải pháp nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp. Bên cạnh khái niệm và nội dung của lợi nhuận, theo những bài nghiên cứu đi trước, chẳng hạn nghiên cứu của Nguyễn Thị Tú (2017), lợi nhuận là kết quả của quá trình hoạt động sản xuât kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời là chỉ tiêu nhận được nhiều sự quan tâm của những người sử dụng thông tin tài chính như nhà quản tri, nhà đầu tư (NĐT), các chủ nợ… Bên cạnh việc xem xét đến khía cạnh số lượng của lợi nhuận, chất lượng của khoản lợi nhuận đó cũng là một điều cần được cân nhắc đến. Trong đó, cần phải đánh giá lợi nhuận của công ty công bố có tính ổn định và bền vững hay không, những con số trong báo cáo tài chính có mang tính trân thực, xuất phát từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hay đã được điều chỉnh bởi thủ thuật kế toán. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Anh (2017), ở Việt Nam, lý do thúc đẩy hành động điều chỉnh lợi nhuận là tối thiểu hóa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo hình ảnh tốt công ty để thu hút đầu tư từ bên ngoài.
Điều này dẫn đến rủi ro trong việc đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, gây sai lầm đầu tư khi các nhà quản trị có thể điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của họ. Do vậy, để đánh giá doanh nghiệp nào có chất lượng thu nhập tốt, yếu tố nào tác động tích cực, tiêu cực, việc nghiên cứu chất lượng lợi nhuận và các yếu tố tác động nhằm đưa quyết định trong quản trị hay đầu tư là điều cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Ngoài ra, lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh.