CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của hệ thống kiểm soát nội bộ. Trong chương này, tác giả thực hiện việc phân tích và đánh giá một số nghiên cứu đã thực hiện có liên quan đến HTKSNB, tính hữu hiệu của HTKSNB và các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của HTKSNB. Qua đó xác định khe hổng nghiên cứu và đưa ra các định hướng nghiên cứu của luận văn.Các nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB. Một số nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ và tính hữu hiệu của hệ thống KSNB như sau: 1/ Năm 2006, tác giả Lembi Noorvee đã thực hiện nghiên cứu hỗn hợp vừa định tính và định lượng.
Dựa trên lý thuyết khuôn mẫu báo cáo COSO và tiến hành khảo sát thực nghiệm tại ba công ty sản xuất vừa của Estonia. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ về báo cáo tài chính. Kết quả nghiên cứu: - Phát triển một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu trong các công ty vừa và nhỏ thì d dàng hơn do nhân viên ít, liên lạc cá nhân nhiều hơn và cấp bậc quản lý ít hơn; - Kiểm soát nội bộ hiệu quả không có nghĩa là sự thành công tài chính của công ty do những hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSBN; - Trong ngắn hạn, hệ thống kiểm soát nội bộ có thể trở thành một trở ngại cho sự tăng trưởng nhanh, đặc biệt là sự giám sát hiệu quả của ban kiểm soát vì họ có xu hướng bảo thủ trong việc quản lí rủi ro hơn. Do đó, mối quan hệ giữa kết quả tài chính của công ty và hiệu quả kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính không rõ ràng.
Các công ty phát triển nhanh, sự quan tâm của các nhà quản lý chủ yếu tập trung vào sự tăng trưởng và phát triển của doanh số, và ít hơn chú trọng tới sự phát triển nội bộ của hệ thống quản lý và kiểm soát công ty; - Trong dài hạn, việc thiếu hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu có thể trở thành vấn đề của công ty. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 2/ Năm 2011, các tác giả Sultana và Haque đã tiến hành nghiên cứu về KSNB dựa theo khuôn mẫu báo cáo COSO, nghiên cứu thực nghiệm từ 6 ngân hàng tư nhân niêm yết tại Bangladesh. Nghiên cứu xác định các biến độc lập là các thành phần của KSNB : (1) môi trường kiểm soát, (2) đánh giá rủi ro, (3) hệ thống thông tin truyền thông, (4) các hoạt động kiểm soát, (5) giám sát. - Biến phụ thuộc: Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Biến điều tiết: Ủy quyền, mối quan hệ cộng tác. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng để xác định khả năng đảm bảo hoạt động của đơn vị phù hợp với mục tiêu đề ra thì cần đánh giá cấu trúc kiểm soát nội bộ trong một đơn vị. Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng mối tương quan trên thực sự có ý nghĩa khi các biến độc lập có mối quan hệ với từng mục tiêu kiểm soát của các ngân hàng, cụ thể từng thành phần trong HTKSNB (biến độc lập) hoạt động tốt sẽ đảm bảo hợp lý các mục tiêu kiểm soát và vì thế đảm bảo sự hữu hiệu của HTKSNB. 3/ Năm 2012, Kanyamon Wittayapoom & Sumalee Limsuwan tiến hành nghiên cứu qua việc thực hiện khảo sát, thu thập dữ liệu của một trăm hai mươi bốn bảng câu hỏi được trả lời hoàn chỉnh bởi các Trưởng Kiểm toán viên điều hành (CAES) của các công ty niêm yết Thái Lan.
Mục tiêu nghiên cứu này là kiểm tra tác động của hiệu quả kiểm soát nội bộ về độ tin cậy của báo cáo tài chính và mối quan hệ giữa các biến tiền đề: hiệu quả quản lý rủi ro, chất lượng phù hợp, khả năng giao tiếp trong nội bộ, tính đầy đủ theo dõi liên tục và hiệu quả kiểm soát nội bộ. Kết quả cho thấy hiệu quả của kiểm soát nội bộ ảnh hưởng tích cực đáng kể đến độ tin cậy của báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, hiệu quả quản lý rủi ro, chất lượng phù hợp, truyền thông nội bộ, và tính đầy đủ theo dõi liên tục ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Mặt khác, nghiên cứu này cũng cho thấy rằng một nền văn hóa đạo đức ôn hòa cũng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý rủi ro, chất lượng phù hợp, tiềm năng của truyền thông bên trong tổ chức, theo dõi đầy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 đủ liên tục và hiệu quả kiểm soát nội bộ, giữa hiệu quả kiểm soát nội bộ và độ tin cậy của tài chính báo cáo mối quan hệ tương ứng.
Các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ, tạo độ tin cậy của BCTC H1 Hiệu quả quản trị rủi ro H5 TÍNH HỮU ĐỘ TIN CẬY CỦA HIỆU CỦA BÁO CÁO TÀI H2 HỆ THỐNG Tuân thủ chất CHÍNH KIỂM SOÁT lượng NỘI BỘ Thông tin và H3 truyền thông nội bộ tổ chức H6a H6b Giám sát đầy đủ H4 liên tục Văn hóa tổ chức (Nguồn: Kanyamon Wittayapoom & Sumalee Limsuwan, (2012)) 4/ Năm 2012, nghiên cứu ảnh hưởng của chiến lược KSNB đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết tại Thái Lan Các tác giả Varipin Mongkolsamai & Phapruke Ussahawanitchakitthực hiện khảo sát một trăm hai mươi công ty niêm yết, kết quả cho thấy có ba nhân tố ảnh hưởng tích cực đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức: - Môi trường kiểm soát; - Đánh giá rủi ro; - Thông tin và truyền thông. Có bốn nhân tố ảnh hưởng tích cực đến chiến lược KSNB, bao gồm: - Tầm nhìn điều hành minh bạch; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Kiến thức của nhân viên; - Sự đa dạng của các giao dịch kinh doanh; - Nhu cầu của các bên liên quan. Ngoài ra, tư duy nhóm tích cực điều tiết các mối quan hệ giữa kiến thức nhân viên và môi trường kiểm soát và các hoạt động kiểm soát. Tư duy nhóm tiêu cực điều tiết các mối quan hệ giữa tầm nhìn điều hành minh bạch và môi trường kiểm soát.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược KSNB H10a- e Tầm nhìn điều H6a- H11a- hành minh bạch e e H1-5 H12a- HỆ THỐNG e HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT Kiến thức của H7a- HOẠT ĐỘNG NỘI BỘ nhân viên e CỦA TỔ CHỨC - Môi trường kiểm soát - Đánh giá rủi ro Đa dạng giao H8a- - Hoạt động kiểm soát dịch kinh doanh e - Thông tin và truyền thông - Giám sát Nhu cầu của các H9a- bên liên quan e Biến kiểm soát: Tư duy nhóm - Tuôi công ty - Quy mô công ty (Nguồn: Varipin Mongkolsamai & Phapruke Ussahawanitchakit, (2012)) 5/ Năm 2014 Tác giả Gamage và Kevin Low Lock & Fernando, nghiên cứu về tính hữu hiệu của HTKSNB trong ngân hàng thương mại tại Srilanka Tác giả đã kết luận hệ thống kiểm soát nội bộ là một phần chính trong bất k tổ chức nào. Kiểm soát nội bộ là quá trình được thiết kế và chịu ảnh hưởng bởi những người lãnh đạo, quản lý và các nhân viên khác để cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu của tổ chức liên quan đến độ tin cậy của báo cáo tài chính, hiệu quả hoạt động, tuân thủ luật pháp và các quy định hiện hành. Do đó, kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành để giải quyết các rủi ro kinh doanh đã xác định có thể đe doạ đến việc đạt được bất k mục tiêu của đơn vị. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các biến độc lập bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin truyền thông, hoạt động kiểm soát, giám sát có sự tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc là tính hữu hiệu của HTKSNB.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các nghiên cứu trong nước Tại Việt nam, có rất nhiều nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ, các nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ cụ thể như sau: 1/Năm 2008, thực trạng và giải pháp nâng cao tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay, của tác giả Tạ Thị Thùy Mai. Luận văn đã nêu lên một số lý thuyết căn bản về kiểm soát nội bộ. Tác giả đã khảo sát thực trạng kiểm soát nội bộ tại một số DNNVV tại Lâm Đồng, từ thực tế nghiên cứu tác giả kiến nghị một số giải pháp giúp nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các DNNVV.
Kết quả nghiên cứu thực trạng hệ thống KSNB các DNNVV tại Lâm Đồng cho thấy phần lớn các DN đều có thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, được đánh gía qua năm nhân tố cấu thành: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Tuy nhiên nhìn chung hệ thống KSNB tại các DNNVV hoạt động chưa hiệu quả do các nguyên nhân sau: - Nhân sự về kế toán ít, kế toán chủ yếu thực hiện công việc báo cáo tài chính nhằm đối phó với các cơ quan chức năng; - Các nhà quản lý cho rằng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chỉ chủ yếu phục vụ cho chính DN của họ; - Nguồn nhân lực ít, không có chuyên môn cao, thiếu nhân sự chuyên trách dẫn đến khó phân chia trách nhiệm rõ ràng dẫn đến việc khó kiểm soát; - Việc bảo mật thông tin trên hệ thống máy tính chưa được quan tâm đúng đắn, độ tin cậy của dữ liệu không cao; - Các nhà quản lý đưa ra quyết định kinh doanh chủ yếu dựa vào thông tin thị trường và kinh nghiệm phán đoán cá nhân hơn là dựa vào thông tin do hệ thống kế toán cung cấp; - Doanh nghiệp thiếu sự xem xét, đánh giá định k hệ thống kiểm soát nội bộ. Từ các hạn chế nêu trên tác giả luận văn đã đề nghị hai nhóm giải pháp, về giải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 pháp vĩ mô với sự trợ giúp của nhà nước cần xây dựng hệ thống lý luận kiểm soát nội bộ của Việt Nam, thể chế hóa những quy định về luật pháp. Về phía DN, DNNVV cần chủ động, tích cực tự hoàn thiện, nâng cao tính hiệu quả của hệ thống KSNB.