CHƯƠNG I TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Tóm lược các lý thuyết Có rất nhiều khái niệm, ñịnh nghĩa về hạnh phúc, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu trước ñây về hạnh phúc chủ yếu mang tính ñịnh tính, chủ quan. ðức Phật Thích Ca dạy rằng “Vạn sự vô thường vạn sự thường, nghĩa là mọi sự thay ñổi không ngừng nên mọi sự chỉ là khổ. Sinh lão bệnh tử, con người sinh ra ñể rồi già yếu, bệnh tật và cuối cùng là phải chết.
ðời là bể khổ, muốn có hạnh phúc, ra khỏi bể khổ, cần diệt lòng tham sân si”7. Khổ diệt lòng tham mới thoát khỏi bến mê, khỏi u minh chốn hồng trần (tâm sẽ thanh thản, thần sẽ minh mẫn, niết bàn sẽ xuất hiện). Tương tự với quan niệm của Phật giáo về hạnh phúc, Thiên chúa giáo cho rằng hạnh phúc bền vững chỉ có ở chốn thiên ñàng, những người chấp nhận những thua thiệt, nghèo khó, bị bách hại, ñau khổ ở ñời này thì sẽ ñược lên thiên ñàng, hạnh phúc mãi mãi. Quan ñiểm của triết học Mác về hạnh phúc “Hạnh phúc là ñấu tranh”8.
Sự vật hiện tượng luôn vận ñộng biến ñổi không ngừng, mâu thuẫn là ñộng lực của sự phát triển, ñấu tranh giữa các mặt ñối lập là tiền ñề của sự phát triển, nó làm cho mâu thuẫn ngày càng trở nên gay gắt, và ñến một giai ñoạn nhất ñịnh thì ñược giải quyết bằng sự biến ñổi căn bản hoặc bằng sự tiêu vong của cái cũ và xuất hiện cái mới. Con người không thể như các sinh vật luôn chấp nhận sự an bài của thượng ñế, phải luôn vận ñộng, ñấu tranh ñể vì một cái mới hoàn thiện và tốt ñẹp hơn. Tuy nhiên, con người nếu cứ luôn ñấu tranh, luôn muốn thay ñổi và ñòi hỏi mọi sự phải luôn tốt ñẹp hơn, ñầy ñủ hơn thì sẽ không bao giờ thỏa mãn với những gì mình có và phải luôn chạy theo những mục tiêu cao hơn, xa hơn sẽ làm cho cuộc sống của mình luôn căng thẳng, mệt mỏi và không bao giờ ñược thỏa mãn, sung 7 Nguyễn Hữu An (2008) Hạnh phúc http://www.com/dongnhim/archive/index.html 8 TS Nguyễn Tấn Hùng (2005), Các quan ñiểm khác nhau trong lịch sử triết học về vấn ñề mưu cầu hạnh phúc cá nhân và ý nghĩa của nó ñối với xã hội ta hiện nay, http://www.vn/?vientriet=articles_deltails&id=390&cat=44&pcat= TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 sướng… Nguyễn Công Trứ ñã từng nói: "Tri túc tiện túc, ñãi túc hà thời túc? Tri nhàn tiện nhàn, ñãi nhàn hà thời nhàn?" (Biết ñủ thì ñủ, ñợi ñủ thì bao giờ mới ñủ? Biết nhàn thì nhàn, ñợi nhàn bao giờ mới nhàn?). Và có một ñiều thú vị là sau nhiều thế hệ và ñặc ñiểm thời ñại hoàn toàn khác nhau, Layard (2008) - Giáo sư kinh tế ðại học kinh tế Luân ðôn lại có cùng quan ñiểm với ý tưởng trên, ông cho rằng: ngày nay chúng ta giàu có hơn các thế hệ cha ông chúng ta rất nhiều, thu nhập của chúng ta cao hơn gấp nhiều lần, chúng ta có thực phẩm, xe cộ, quần áo, có những ngôi nhà lớn, tiện nghi hơn, có sức khỏe và công việc thoải mái hơn so với thế hệ cha ông nhưng người phương Tây vẫn không thấy hạnh phúc hơn cha ông của họ năm mươi năm trước.
Ông cũng cho rằng hạnh phúc là cảm giác tốt ñẹp, hưởng thụ cuộc ñời và cảm thấy cuộc sống tuyệt vời. Không hạnh phúc là cảm thấy buồn bực và muốn có sự thay ñổi. Và trong cách nghĩ ñơn giản và rõ ràng như thế, vật chất, thứ người ta vất vả hàng ngày ñể tìm kiếm nó, lại không góp phần nhiều vào cảm giác ñó. Tư tưởng mà Layard (2008) muốn gửi ñến mọi người là khi ñói rách con người mơ ước ñược ăn no mặc ấm, nhưng khi ñã ñược như thế rồi lại nảy sinh nhu cầu ăn ngon mặc ñẹp.
Các nhu cầu vật chất và tinh thần cứ tăng theo ñà phát triển kinh tế. Nếu không biết phân ñịnh thứ bậc giữa các nhu cầu, nếu cứ lấy việc làm giàu làm mục tiêu chính cho cuộc sống, thì sớm muộn người ta cũng sẽ rơi vào thất bại như những gì mà mô hình phát triển phương Tây ñang nếm trải trong nhiều thập kỷ qua. Bởi vì nó ñã không ñáp ứng ñược các khát vọng cơ bản nhất của con người. Ông chủ trương ñề xuất ñưa môn học có tên là “Bài học hạnh phúc” vào trong trường học.
Ông cho rằng tất cả học sinh ñều cần phải học “những bài học hạnh phúc”. Làm sao con người có thể hạnh phúc nếu không chịu mất thời gian ñể hiểu biết nó. Ngòai ra còn có rất nhiều quan niệm khác về hạnh phúc9: Epicurus: “Hạnh phúc là mục ñích tối hậu của ñời sống loài người. Sự yên bình và hợp lẽ phải là nền tảng của hạnh phúc”.
9 “Muôn người hạnh phúc chan hòa” BS Nguyễn ðức Ý, www.2007 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 - Aristote: “Hạnh phúc là ý nghĩa và mục ñích của cuộc ñời, là mục tiêu và cũng là giới hạn tận cùng của sự tồn tại người”. - John Stuart Mill: “Hạnh phúc là sự giới hạn dục vọng hơn là thỏa mãn dục vọng”. - Lucrece: “Tạo hóa ñã an bài hạnh phúc vừa ñúng mức cho mọi người. Chỉ cần biết lựa chọn nó mà thôi”.
- Deni Diderot: “Người hạnh phúc nhất là kẻ ñã tạo ñược hạnh phúc cho nhiều người khác”. - Mahatma Gandhi: “Hạnh phúc là khi ta nghĩ, ta nói, ta làm ăn nhịp với nhau”. - De Tocqueville: “Chấp nhận sự bất hạnh có lẽ còn ít ñau khổ hơn là sự mưu cầu hạnh phúc”. - Gustave Droz: Có một số người, “chỉ ñạt ñến mức sung sướng bằng cách trang trọng góp nhặt từng mảnh vụn của hạnh phúc vương vãi ñó ñây”.
- Abraham Lincoln: “Chúng ta hạnh phúc vì tâm can ta cảm thấy vậy”. Những nghiên cứu và suy nghĩ trên về một góc ñộ nào ñó ñã lý giải khá nhiều vấn ñề của thực tế cuộc sống, tuy vậy vẫn mang tính ñịnh tính và chủ quan của bản thân, mỗi người tùy theo hoàn cảnh, ñiều kiện và thời ñiểm nhất ñịnh ñể ñưa ra các quan niệm riêng của mình, do vậy khó có thể thống nhất ñược với nhau, khó có thể ñưa ra các giải pháp thuyết phục ñể có chính sách tác ñộng thích hợp. Những năm gần ñây các nghiên cứu ñịnh lượng về hạnh phúc ñã ñược chú ý triển khai ở các nước phát triển. Tác phẩm ñược coi là xuất hiện sớm nhất trong nghiên cứu khoa học về hạnh phúc “The Science of Happiness” của một nhóm tác giả xuất bản tại London năm 1861.
Năm 1909, một cuốn khác cùng tên của Henry S. Williams xuất bản tại New York tiếp tục gây ñược sự chú ý nhất ñịnh trong giới học thuật. Từ ñó các công trình, chuyên khảo, bài báo… cùng khuynh hướng nghiên cứu khoa học về hạnh phúc ñều ñặn xuất hiện. Tuy vậy, phải ñến gần ñây, ở phương Tây, người ta mới TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 thừa nhận Science of Happiness là một ngành nghiên cứu tương ñối ñộc lập với ñối tượng nghiên cứu là hạnh phúc10.
Học thuyết tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1943) cho rằng nhu cầu tự nhiên của con người ñược chia thành các thang bậc khác nhau từ "ñáy” lên tới “ñỉnh”, từ nhu cầu sinh lý (vật chất, cơ bản) ñến nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận), nhu cầu ñược tôn trọng rồi ñến mức cao nhất là nhu cầu tự hoàn thiện. Thuyết tháp nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ ñược thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn ñược ñáp ứng. Những nhu cầu có thể ñược sử dụng như là một cơ sở cho việc ñánh giá mức ñộ tổng thể hạnh phúc của cá nhân.
Rothwell và Cohen (2003), hai nhà nghiên cứu người Anh, lần ñầu tiên ñưa ra công thức ñể tính hạnh phúc. Dựa trên kết quả khảo sát xã hội học ở 1000 người Anh, công thức ñược ñưa ra dưới dạng: [Hạnh phúc = P + (5xE) + (3xH)]11.1] Trong ñó, P là chỉ số cá tính (Personal Characterisrics) bao gồm quan niệm sống, khả năng thích nghi và sự bền bỉ dẻo dai trước thử thách. E là chỉ số hiện hữu (Existence) phản ánh tình trạng sức khỏe, khả năng tài chính và các mối quan hệ thân hữu. H là chỉ số thể hiện nhu cầu cấp cao (Higher Oder) bao gồm lòng tự tôn, niềm mơ ước, hoài bảo và cả óc hài hước.
Công thức này có thể chưa ñáp ứng kỳ vọng của giới nghiên cứu tuy nhiên ở một mức ñộ nào ñấy, người ta cũng thấy nó có giá trị gợi mở nhất ñịnh. Theo Graham (2005) trong nghiên cứu về Kinh tế của hạnh phúc, ñã ñưa ra mô hình kinh tế lượng nghiên cứu về hạnh phúc như sau: Wit = α + βxit + εit.2] Trong ñó: Wit là hạnh phúc của cá nhân i tại thời gian t. 10 Nghiên cứu ñịnh lượng về hạnh phúc và chỉ số hạnh phúc (HPI) của Việt Nam trong 178 nước năm 2006. Hồ Sỹ Quý 11 The formula for happiness http://news.uk/2/hi/health/2630869.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 x là các biến ñộc lập, bao gồm xã hội nhân khẩu học - kinh tế xã hội và ñặc ñiểm kinh tế xã hội như thu nhập, giáo dục, tình trạng hôn nhân và việc làm. t là các thời ñiểm ε là sai số, α , β là các hệ số. Nghiên cứu cũng chỉ ra ñược các nhân tố có ảnh hưởng ñến hạnh phúc cá nhân mỗi người như thu nhập, giáo dục, tình trạng hôn nhân và việc làm. Tuy nhiên nghiên cứu chưa chỉ ra bộ dữ liệu sử dụng, ý nghĩa thống kê của các biến … Về quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc, xưa nay, hầu hết các lý thuyết ñạo ñức xã hội thường nói rằng, tiền bạc gần như không có liên hệ nhân quả nào với hạnh phúc.
Tuy nhiên theo nghiên cứu của nhà xã hội học Glenn Firebaugh, ñại học Pennsylvania và Laura Tach, ñại học Harvard (Mỹ) thì tiền bạc có tạo ra hạnh phúc, tuy nhiên, với một ñiều kiện là người làm ra tiền bạc phải cảm thấy họ kiếm ñược nhiều tiền hơn những người quanh họ12. Cũng cho kết quả tương tự, nhà tâm lý học ñại học Illinois (Mỹ) Diener (1980) kết luận sẽ là không ñúng nếu nói tiền bạc không liên quan tới hạnh phúc; mối quan hệ giữa chúng rất phức tạp, song tỷ lệ hài lòng với cuộc sống của người giàu thường cao hơn nhiều so với người nghèo. Hiện tượng này ñúng cho cả những nước giàu và những ngước nghèo. Chuyên gia kinh tế Andrew Oswald (2001) của ðại học Warwick (Anh) cũng ñồng ý với Edward Diener khi nghiên cứu một nhóm người trúng xổ số từ 2.