CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong quá trình kiểm toán, các CTKT có thể gặp phải rủi ro như là bị kiện tụng và gánh chịu hậu quả pháp lý rất cao nếu YKKT đưa ra trên BCKT không phù hợp. Điều này làm cho các CTKT bị tổn thất về tài chính, sụt giảm uy tín và thậm chí có thể ngừng hoạt động. Tại Hoa Kỳ, sau các sự cố Kế toán và Kiểm toán xảy ra từ những năm đầu thế kỷ 21, Luật Sarbanes Oxley 2002 được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn ngày 30/07/2002 trong đó có những nội dung liên quan đến trách nhiệm của KTV, nâng cao CLKT. Để nâng cao CLKT, đối phó với rủi ro kiện tụng ngày càng gia tăng, một trong những biện pháp mà c ác CTKT thực hiện là tăng cường kiểm soát quy trình CNKH mới, DTKH cũ.
Trong vài năm gần đây, nhiều nghiên cứu ở nước ngoài đã tìm hiểu về chủ đề CN, DTKH, đặc biệt là về chủ đề các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định CN, DTKH. 9 Chương này trước tiên trình bày về tổng quan các NC trước liên quan các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định CN, DTKH. Dựa trên cơ sở kết quả tổng quan, tác giả xác định các khoảng trống nghiên cứu. Phần cuối của chương sẽ đưa ra định hướng NC cho luận án.
Tổng quan các nghiên cứu trước trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận, duy trì khách hàng 1. Tổng quan các nghiên cứu chung về chấp nhận và duy trì khách hàng Các NC trước về chủ đề này rất đa dạng, các dòng nghiên cứu chính gồm: các NC về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định CN, DTKH; các NC về mô hình ra quyết định CN, DTKH.1 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận, duy trì khách hàng Trong hơn hai thập kỷ qua, khá nhiều NC với các phương pháp khác nhau đã tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định CN, DTKH. Sự phát triển của các NC này có thể được chia thành ba giai đoạn tương ứng với ba nhóm chủ đề chính như sau: Giai đoạn đầu tiên (1) là giai đoạn NC về ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro (RRKT, RRKD của khách hàng, RRKD của CTKT) đến quyết định CN, DTKH. Trong đó, các NC nổi bật đó là: Huss và Jacobs (1991), Asare và Knechel (1995), Johnstone (2000); Johnstone (2001); Johnstone và Bedard (2003); Johnstone và Bedard (2004).
Giai đoạn tiếp theo (2) là giai đoạn NC về ảnh hưởng của đặc điểm BQT của khách hàng đến quyết định CN, DTKH. Trong đó, ảnh hưởng của đặc điểm BQT của khách hàng đã được các nhà nghiên cứu xem xét trên nhiều khía cạnh như: HĐQT, UBKT (Cohen và Hanno, 2000; Lee và cộng sự, 2004; Sharma và cộng sự, 2008; ElSayed Ebaid, 2011; Cassell và cộng sự, 2012). 10 Giai đoạn kế tiếp (3) là giai đoạn nghiên cứu về ảnh hưởng của mức độ chuyên ngành của CTKT đến quyết định CN, DTKH. Trong đó, mức độ chuyên ngành đã được các nhà nghiên cứu kiểm tra theo hai hướng đó là: mức độ chuyên ngành của CTKT (Hertz, 2006; Cenker và Nagy, 2008; Hsieh và cộng sự, 2013; Hsieh và Lin, 2016) và mức độ chuyên môn của chủ phần hùn (Hsieh và Lin, 2016).
Những năm gần đây, các NC về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định CN, DTKH vẫn tiếp tục được thực hiện. Trong đó, các nghiên cứu chú trọng đến xem xét ảnh hưởng của các nhân tố thuộc RRKD của CTKT như ảnh hưởng đạo đức của khách hàng (tính chính trực của NQL khách hàng) (Conn và cộng sự, 2019; Wolfe và Sterna, 2020), ảnh hưởng của việc hạn chế về nguồn lực của CTKT (Conley, 2019). Cụ thể, các dòng NC chính có thể kể ra bao gồm: (1) Các NC về ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro đến quyết định CN, DTKH Khá nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu về ảnh hưởng của các nhân tố rủi ro tới quyết định CN, DTKH. Các NC chủ yếu đã được thực hiện tại các quốc gia như Hoa Kỳ (Huss và Jacobs, 1991; Asare và Knechel, 1995; Johnstone, 2000; Johnstone, 2001; Johnstone và Bedard, 2003; Johnstone và Bedard, 2004; Asare và cộng sự, 2005; Cenker và Nagy, 2008; Conn và cộng sự, 2019; Conley, 2019), Canada (Gendron, 2001; Gendron, 2002), Hà Lan (Wittek và cộng sự, 2008), Hi Lạp (Papadopouloua, 2021), Trung Quốc (Chow và cộng sự, 2006), Singapore (Sharma và cộng sự, 2008), Ai Cập (ElSayed Ebaid, 2011), Tunisia (Ouertani và DamakAyadi, 2012), Đài Loan (Hsieh và Lin, 2016); … Huss và Jacobs là một trong những tác giả NC khá sớm các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định CN, DTKH.
Huss và Jacobs (1991) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định của KTV trong quyết định CNKH ở Hoa Kỳ thông qua phương pháp định tính. Kết quả NC cho thấy RRKT, RRKD của khách hàng, 11 RRKD của CTKT là các nhân tố quan trọng trong quyết định CN, DTKH. Trong đó, các yếu tố thuộc RRKT ảnh hưởng tới việc CNKH gồm tính chính trực của NQL khách hàng; nguyên nhân thay đổi CTKT. Các yếu tố thuộc RRKD khách hàng ảnh hưởng tới quyết định CNKH gồm khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán nhanh, sự cạnh tranh ngành.
Các yếu tố thuộc RRKD của CTKT ảnh hưởng tới quyết định CNKH gồm mức độ người sử dụng dựa vào BCTC được kiểm toán để ra quyết định, khả năng của CTKT để thực hiện kiểm toán (nhân sự), chi phí kiện tụng tiềm năng. Một nghiên cứu khác cũng được thực hiện ở Hoa Kỳ sau đó là nghiên cứu của Asare và Knechel (1995). Các tác giả tìm hiểu cách thức mà CTKT sàng lọc các khách hàng tiềm năng và hiện tại. Định lượng là phương pháp được sử dụng thông qua phương pháp thử nghiệm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy RRKT, RRKD của khách hàng, RRKD của CTKT có ảnh hưởng tới việc CNKH. Trong đó, các yếu tố thuộc RRKT bao gồm tính chính trực của Giám đốc điều hành, năng lực của kế toán, động cơ của NQL trong việc điều chỉnh BCTC, triết lý quản lý và thái độ NQL đối với kiểm soát. Yếu tố thuộc RRKD của khách hàng là khả năng thanh toán. Yếu tố thuộc RRKD của CTKT như cơ hội cho dịch v ụ t ư v ấn qu ản lý.
Johnstone (2001) nghiên cứu nhận thức của các KTV tại Hoa Kỳ về tầm quan trọng của ba thành phần rủi ro hợp đồng (RRKT, RRKD của khách hàng và RRKD của CTKT) đối với quyết định CNKH qua phương pháp định tính. Kết quả NC cho thấy RRKT là nhân tố quan trọng nhất, tiếp theo là RRKD của khách hàng và RRKD của CTKT ảnh hưởng tới quyết định CNKH. Trong đó, các yếu tố được xếp theo thứ tự quan trọng thuộc RRKT gồm: thái độ của NQL đối với KSNB, mối quan hệ giữa khách hàng và CTKT trong quá khứ, mức độ yêu cầu các xét đoán trong đánh giá tài sản, bản chất của ngành, sự tồn tại bộ phận kiểm toán nội bộ. Các yếu tố được xếp theo thứ tự quan trọng thuộc RRKD của khách hàng gồm: tình hình tài chính của khách hàng so với các khách hàng khác trong 12 ngành, thông tin về kế hoạch dài hạn của NQL, sự cạnh tranh trong ngành.
Các yếu tố được xếp theo thứ tự quan trọng thuộc RRKD của CTKT gồm: chuyên gia CTKT, khả năng cổ phiếu công ty được kiểm toán đưa ra công chúng lần đầu (IPO); cơ hội của dịch vụ phi kiểm toán (NAS); thời điểm kết thúc năm tài chính (mùa bận rộn) và chiến lược giá cả của đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra, những thông tin liên quan tính chính trực của NQL khách hàng là một trong các yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng tới quyết định CNKH. Nghề nghiệp kiểm toán bị chỉ trích khá nhiều từ những vụ bê bối về các hành vi gian lận tài chính của các công ty hàng đầu trên thế giới như Enron, WorldCom, Parmalat, AHOLD. Các chỉ trích cho rằng KTV có thể quá quan tâm đến lợi nhuận và không coi trọng các chuẩn mực nghề nghiệp như họ cần nên làm.
Việc vi phạm các chuẩn mực nghề nghiệp nếu dẫn đến BCTC có sai sót trọng yếu có thể gây ra những hậu quả lớn cho cả cá nhân KTV, CTKT và xã hội. Wittek và cộng sự (2008) cho rằng nghề kiểm toán ngày càng có xu hướng vi phạm một số nguyên tắc nghề nghiệp, trong đó có tính độc lập trước áp lực cạnh tranh. KTV CNKH mới mặc dù phí kiểm toán không đủ và/hoặc với động cơ có được các dịch vụ bổ sung (phi kiểm toán). Động cơ thương mại hóa ngày càng tăng và những thay đổi sâu sắc trong chính sách khen thưởng và quản trị của doanh nghiệp kiểm toán là một trong những lý do ảnh hưởng đến sự xói mòn các tiêu chuẩn nghề nghiệp.
Động cơ thương mại là một mối đe dọa tiềm ẩn đối với đạo đức nghề nghiệp trong các giai đoạn của một cuộc kiểm toán. Một số NC đã tìm hiểu về cách thức mà KTV đưa ra quyết định CNKH là dựa vào tính chuyên nghiệp hay tính thương mại như Gendron (2001), Gendron (2002). Gendron (2001) xem xét cách thức mà KTV đưa ra quyết định CNKH là dựa vào tính chuyên nghiệp hay tính thương mại, với phương pháp nghiên cứu định tính. Nghiên cứu được thực hiện tại ba công ty thuộc nhóm big 6 ở Canada.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hai trong ba CTKT, quá trình ra quyết định CNKH phù hợp 13 với tính chuyên nghiệp. CTKT chấp nhận một khách hàng tiềm năng tùy thuộc vào khả năng phân công các KTV có kinh nghiệm. Phát triển chủ đề trên, Gendron (2002) NC vai trò của tổ chức CTKT trong quyết định CN, DTKH của các KTV tại ba công ty Big Six đặt tại hai thành phố lớn nhất của Canada cũng bằng phương pháp định tính. Kết quả NC của Gendron (2002) cho thấy nếu CTKT nhấn mạnh định hướng thương mại hơn so với định hướng nghề nghiệp sẽ làm tăng quyền lực cho các chủ phần hùn đưa ra các quyết định CN, DTKH có nhiều rủi ro.
Ngược lại, nếu các CTKT nhấn mạnh đến định hướng nghề nghiệp hơn là định hướng thương mại, có những biện pháp kỹ luật mạnh mẽ đối với những hành vi sai trái nghề nghiệp và đề cao sự tuân thủ chuẩn mực hơn là sử dụng chính sách khen thưởng sẽ làm giảm xu hướng các chủ phần hùn đưa ra các quyết định CN , DTKH có nhiều rủi ro. Như vậy, mục tiêu của công ty là định hướng nghề nghiệp hoặc thương mại sẽ ảnh hưởng đáng kể tới quyết định của NQL. Các chính sách của công ty như lương, thưởng cho chủ phần hùn, chính sách CNKH, chiến lược phát triển thực tế của công ty đều bị ảnh hưởng bởi mục tiêu này.