CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN NGHIÊN cứu Nội dung chương này trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đo lường áp dụng KTQT và các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong DN. Mục tiêu của chương này là nền tảng vững chắc, là cơ sở để luận văn kế thừa các nhân tố, cơ sở lý thuyết, lý thuyết nền, phương pháp nghiên cứu và so sánh kết quả nghiên cứu. Qua quá trình tổng quan các nghiên cứu, tác giả có thể nhìn nhận được xu hướng nghiên cứu và có thể tìm ra khe hỏng nghiên cứu, sau đó định hướng cho nghiên cứu này.1 Nghiên cứu về đo lường áp dụng KTQT Phần này, tác giả tổng quan các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng KTQT vào công tác quản lý, điều hành kinh doanh tại DN, cũng như những đánh giá từ nghiên cứu thực nghiệm, kết quả đạt được của các DN khi áp dụng KTQT.1 Các nghiên cứu quốc tế về áp dụng KTQT Armitage và các cộng sự (2016), nghiên cứu việc sử dụng các kỹ thuật KTQT trong các DNNW tại Canada và úc. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn trực tiếp 22 lãnh đạo DNNW ở hai quốc gia này vào năm 2012 tại Canada và năm 2023 tại ức.
Người được hỏi biết rất ít về mức độ áp dụng KTQT tại DN, như: ngân sách, hệ thống chi phí, phân tích để ra quyết định hoặc báo cáo trách nhiệm. Nghiên cứu đã xác định mức độ sử dụng các kỹ thuật KTQT phổ biến trong các DNNW, và giải thích lý do tại sao các kỹ thuật KTQT không được sử dụng. Kết quả cho thấy một số lượng rất nhỏ các DN sử dụng các kỹ thuật vừa phải hoặc sử dụng nhiều. Bên cạnh đó, các công ty sản xuất có mức độ áp dụng các kỹ thuật KTQT cao như: hệ thống chi phí, lập ngân sách với mục tiêu nhằm đem lại nhiều lợi ích cho DN.
Đối với các DN trong những năm đầu mới thành lập sử dụng công cụ KTQT mức độ đơn giản hơn. Nghiên cứu còn có những đóng góp trong giáo dục KTQT, và phát triển hệ thống kiểm soát đối với các DNNW. Almasan và các cộng sự (2016), trình bày nhận thức và quan điểm của các nhà quản lý Ba Lan và Rumani về thông tin KTQT, liên quan đến loại, kênh truyền thông và tần suất, xem xét sự hình thành KTQT thông qua cảm nhận của các nhà quản lý ở hai quốc gia này. Dữ liệu được thu thập từ việc khảo sát trực tuyến tập trung vào các nhà quản 5 lý.
Từ kết quả thu được, nghiên cứu phân tích các câu trả lời cho thấy các nhà quản lý hoặc chủ DN nhìn nhận thông tin KTQT rất quan trọng, vì nó phục vụ cho việc ra quyết định trung hạn và ngắn hạn. Bên cạnh đó, các nhà quản lý Ba Lan thích và thường xuyên sử dụng các báo cáo, hình thức thông tin mói như: tích hợp các báo cáo trên thiết bị điện thoại hoặc hình thức trực tuyến. Trong khi đó, ở Romania các nhà quản lý ủng hộ, đề cao các báo cáo, các tệp hồ so được in sẵn, bộ phận quản lý nhận thông tin báo cáo hàng tháng hoặc theo yêu cầu, nhưng những điều này không như mong đợi của họ. Quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin giữa kế toán và người quản lý chỉ được giới hạn trong các cuộc họp khi có nhu cầu.
Ahmad (2017), nghiên cứu việc áp dụng KTQT và mối quan hệ của nó với hiệu suất trong các DNNVV, phưong pháp nghiên cứu hỗn hợp được sử dụng, tập trung vào các DNNW lĩnh vực sản xuất ở Malaysia, không bao gồm DN siêu nhỏ. Nghiên cứu cho thấy mức độ tiếp cận và sử dụng KTQT dần có sự phát triển theo hướng tinh vi hon, hệ thống đo lường hiệu suất và hệ thống chi phí được sử dụng phổ biến ở các DNNW, các thực hành KTQT phức tạp hon thường sử dụng trong các công ty quy mô lớn hon. Đồng thời, kết quả cho thấy các DN áp dụng cao các biện pháp mức độ cao nhằm tăng hiệu quả tài chính và sử dụng nhiều hơn các biện pháp phi tài chính cụ thể tập trung vào quy trình nội bộ và khách hàng. Rikhardsson và cộng sự (2018), qua quá trình xem xét, tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn giám đốc điều hành xem công nghệ, dữ liệu và phân tích là một lực lượng phát triển trong kinh doanh, nhiều tổ chức triển khai áp dụng công nghệ thông minh, có thể phân tích dữ liệu và dự báo để hỗ trợ báo cáo và ra quyết định.
KTQT là công cụ hỗ trợ DN quan trọng cho việc ra quyết định, đồng thời kiểm soát hoạt động trong tổ chức, có sự liên kết rõ ràng, mang lại lợi ích cho DN từ việc áp dụng công nghệ thông minh và phân tích trong kinh doanh. Ping (2021) đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng, nghiên cứu về việc khai thác dữ liệu và tích hợp XBRL thông tin KTQT dựa trên trí tuệ nhân tạo, tác giả nhận định rằng việc áp dụng công nghệ thông tin hiện nay ngày càng trở nên rộng rãi hơn và rất cần thiết, KTQT là một phần quan trọng của kế toán hiện đại mở ra những cơ hội phát triển mới. Đồng thời, thúc đẩy các nghiên cứu về khai thác dữ liệu chú ý nhiều hơn đến sự kết hợp giữa thực tiễn và lý thuyết, ứng dụng công nghệ 6 thông tin không chỉ nâng cao chất lượng thông tin KTQT, phục vụ ra quyết định, mà còn hỗ trợ áp dụng kỹ thuật, chiến lược cho sự phát triển lâu dài của DN.2 Các nghiên cứu trong nước về áp dụng KTQT Phạm Ngọc Toàn và các cộng sự (2020) đã làm nổi bật vai trò của KTQT trong quản lý chuỗi cung ứng tại các DN thưong mại khu vực TP HCM. Sự cần thiết của KTQT để tiếp tục gia tăng giá trị bằng cách phối hợp vói các bộ phận thông qua các thông tin chuỗi cung ứng, đặc biệt là áp dụng KTQT vào quản lý chuỗi cung ứng.
Kết quả cho thấy, việc áp dụng KTQT vào quản lý chuỗi cung ứng đạt hiệu quả cao giúp DN có nhiều thông tin phục vụ quản trị DN. Mặc dù, công cụ KTQT truyền thống vẫn được sử dụng, nhưng có dấu hiệu các DN đang dần dịch chuyển từ vai trò giản đon là kiểm soát tài chính và xác định chi phí sang vai trò phức tạp hon trong việc tạo ra giá trị thông qua việc sử dụng tài nguyên hiệu quả. Đồng thời, các DN cần tăng cường khả năng hợp tác và tích hợp thông qua chia sẻ thông tin, giảm lãng phí, chia sẻ các kế hoạch, yêu cầu chiến lược trong tưong lai. Nhà quản lý có thể sử dụng thông tin này để tạo ra một môi trường quản lý hiệu quả.
Nguyễn Thị Phương Dung và các cộng sự (2021) đã phân tích dữ liệu từ 173 DN ngành sản xuất và thương mại dựa trên mô hình IFAC để xem xét trình độ phát triển KTQT tại các DN. Kết quả chỉ ra rằng trình độ áp dụng KTQT tại đa số các DN (69,3%) đang ở mức thấp thuộc giai đoạn 1 là xác định chi phí và giai đoạn 2 là lập kế hoạch và kiểm soát DN của mô hình IFAC, các DN còn lại (30,7%) áp dụng KTQT hiện đại ở giai đoạn 3 là giảm lãng phí và giai đoạn 4 là tạo ra giá trị cho DN. Đồng thời, các phương pháp KTQT truyền thống được áp dụng chủ yếu tại các DN. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chứng minh 6 nhân tố có mối quan hệ cùng chiều đến trình độ phát triển KTQT.
Nguyễn Thị Hồng Sương (2022) đã phát triển nghiên cứu các chỉ tiêu trọng yếu trong báo cáo KTQT đối với DN bán lẻ và đặc biệt là sản xuất, cho thấy báo cáo KTQT có tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển của DN, cập nhật hiệu quả các thông tin phi tài chính và thông tin tài chính phản ánh thực trạng tài chính của DN, phục vụ quá trình kiểm soát, đánh giá quá trình hoạt động DN, qua đó nhà quản lý có thể phân tích các chỉ tiêu trọng yếu và chuyển đổi thông tin hữu ích phục vụ hoạt động DN. 7 Nguyễn Thị Kim Ngọc và Trương Bá Thanh (2023) đã xem xét mức độ vận dụng KTQT trong các DN ngành dệt may. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp được thực hiện. Trong đó, dữ liệu được phân tích từ 216 mẫu sử dụng kỹ thuật thống kê và phân tích cụm.
Kết quả cho thấy các DN dệt may áp dụng kỹ thuật KTQT đạt tỷ lệ 64,73%. Các công cụ KTQT theo nhóm, gồm: nhóm dự toán có mức độ áp dụng trung bình cao nhất đạt mức 94,45%, và các nhóm tiếp theo là nhóm hỗ trợ ra quyết định, nhóm tính giá, nhóm đánh giá thành quả, và sau cùng là nhóm KTQT chiến lược có tỷ lệ áp dụng giảm dần là 67,94%, 66,34%, 51,31%, 51,25%. Bên cạnh đó, các DN dệt may thường xuyên sử dụng các công cụ KTQT truyền thống. Và theo mô hình phát triển IFAC, các DN dệt may đang áp dụng KTQT ở giai đoạn 2 và 3 (2 là cung cấp thông tin để lập kế hoạch và kiểm soát quản lý, 3 là giảm lãng phí tài nguyên DN).2 Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQT 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Ahmad (2012) khám phá việc áp dụng các thực hành KTQT trong các DNNVV ở Malaysia.
Bảng câu hỏi được gửi qua bưu điện đến 1.000 DNNW sản xuất, sau đó thu về 160 mẫu sử dụng được. Ket quả cho thấy, phần lớn những người tham gia trả lời câu hỏi đã sử dụng các kỹ thuật KTQT và cho thấy KTQT có vai trò rất quan trọng trong việc điều hành, quản lý tại DNNW Malaysia. Nghiên cứu phát hiện ra rằng các nhân tố: áp dụng công nghệ, quy mô của DN, cường độ cạnh tranh, sự tham gia từ người quản lý có tác động tích cực đến việc áp dụng KTQT. Halbouni và các cộng sự (2014) nghiên cứu về sự đổi mới KTQT ở Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự đổi mới KTQT trong bối cảnh quốc gia đang phát triển từ 138 DN tại UAE.
Nghiên cứu chỉ ra rằng toàn cầu hóa, công nghệ thông tin (CNTT) và quy mô công ty ảnh hưởng đáng kể đến đổi mới KTQT. Đồng thời, các kỹ thuật KTQT theo hình thức truyền thống được thực hành nhiều hơn là các kỹ thuật KTQT mang tính chất hiện đại.