Chương 1, trình bày vấn đề nghiên cứu đề tài và giới thiệu tổng quát về câu hỏi, đối tượng, phạm vi và cách thu thập, phân tích số liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 2, trình bày chi tiết về cơ sở lý luận và thực tiễn về sự nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân. Chương 3, thể hiện các quy trình, phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong quá trình thực hiện đề tài. Chương 4, phân tích kết quả nghiên cứu về những biểu hiện BĐKH và ảnh hưởng của nó đến hoạt động SXNN, đồng thời thể hiện được nhận thức của người dân về BĐKH cũng như những biện pháp mà người dân ven biển đã áp dụng trong hoạt động SXNN để thích ứng với BĐKH.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 5, đưa ra kết luận và đề xuất các kiến nghị để nâng cao khả năng nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân ven biển huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Nội dung của chương này nhằm mục đích giới thiệu những cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân ven biển. Phần thứ nhất, giới thiệu những khái niệm về BĐKH, thích ứng với BĐKH, SXNN, vùng ven biển, các biểu hiện của BĐKH và ảnh hưởng của nó đến SXNN, cũng như nêu khái niệm về sự thích ứng với BĐKH trong SXNN. Phần thứ hai, trình bày những kinh nghiệm về sự nhận thức và thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân vùng ven biển của một số nước trên thế giới cũng như tại các tỉnh của Việt Nam.
Phần thứ ba của chương, tác giả lược khảo một số nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài, từ đó đề xuất khung phân tích của đề tài.1 Biến đổi khí hậu (climate change) Theo Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) thì “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được” (United Nations, 1992). Theo Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) thì BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) định nghĩa BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.2 Thích ứng với biến đổi khí hậu Để ứng phó với BĐKH, thế giới đang thực hiện cùng lúc 02 chiến lược: Giảm thiểu BĐKH và thích ứng với BĐKH.
Các thách thức đối với 02 chiến lược TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 này đều rất lớn. Tuy nhiên, những thách thức này có thể được giải quyết thông qua những chính sách chủ động và phù hợp về khí hậu (Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2012). Năng lực thích ứng thường được xem xét trong bối cảnh thay đổi về môi trường để gắn kết giữa năng lực thích ứng với những vấn đề về quản trị môi trường. Gần đây, năng lực thích ứng được xem xét trong bối cảnh BĐKH toàn cầu.
Năng lực thích ứng với BĐKH được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: IPCC (2007) định nghĩa thích ứng với BĐKH là khả năng tự điều chỉnh của một hệ thống trước sự biến đổi của khí hậu để làm giảm nhẹ các thiệt hại tiềm tàng, tận dụng các cơ hội, hoặc đương đầu với các hậu quả. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), thì thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc kinh tế - xã hội đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dung các cơ hội do nó mang lại. Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2009) cho rằng thích ứng với BĐKH là năng lực của xã hội để thay đổi theo cách làm cho xã hội được trang bị tốt hơn để có thể quản lý những rủi ro hoặc nhạy cảm từ những ảnh hưởng của BĐKH. Mặt khác, theo Quyen Dinh Ha (2013) thì thích ứng với BĐKH còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổng thương.
Cây cối động vật, và con người không thể tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình để thích ứng và giảm thiểu các rủi ro từ những thay đổi đó. Như vậy, có thể thấy rằng, năng lực thích ứng với BĐKH phản ánh khả năng của một hệ thống hoặc xã hội trong việc điều chỉnh hoặc ứng phó với BĐKH nhằm đạt được 3 mục tiêu: (i) giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH gây ra, (ii) giảm nhẹ các thiệt hại có thể xảy ra, và (iii) tận dụng các cơ hội mới do BĐKH mang lại.3 Sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Đình Thắng (2006) thì nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp, vì cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa rộng bao gồm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cả ngành lâm nghiệp, diêm nghiệp và thủy sản. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ.
Trong đó, trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành sản xuất chính của nông nghiệp. Ben G (2014) nêu khái niệm nông nghiệp là ngành có liên quan đến nuôi trồng và chăn nuôi gia súc. Thuật ngữ "nông nghiệp" có thể được định nghĩa là: Nghệ thuật và khoa học của cây trồng, cây trồng khác và vật nuôi nhằm cung cấp thực phẩm cho con người hoặc mang lại các lợi ích kinh tế khác. Nông nghiệp là cả một nghệ thuật và khoa học, nó có hai bộ phận chính: Thực vật hoặc trồng trọt và động vật hoặc chăn nuôi.
Mục đích cuối cùng của nông nghiệp là để sản xuất thực phẩm, đáp ứng nhu cầu của con người quần áo, thuốc men, dụng cụ, nhà ở, hoặc cho lợi ích kinh tế hay lợi nhuận. Theo quan điểm của Đặng Thị Hoa (2017) thì SXNN là ngành sản xuất vật chất với đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng, vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm cho con người và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp. Với quan điểm này, tùy theo phạm vi và mục tiêu nghiên cứu mà SXNN có thể được hiểu theo nghĩa rộng (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp) hay nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi).4 Vùng ven biển Ngân hàng phát triển tây Châu Phi (BOAD – Banque Ouest Africaine De Developpement, 1973) cho rằng không có định nghĩa chính xác về vùng ven biển. Họ cho rằng vùng ven biển bao gồm vùng nước, vùng biển, cửa sông và một số phần đất dọc bờ biển nơi có hoạt động của con người và các quá trình tự nhiên.
Giới hạn của những vùng đất khác nhau được xác định không chỉ bằng sinh thái và địa chất, đặc điểm mà còn được xác định dưới góc độ chính trị và quản lý hành chính. Theo Scialabba and Nadia (1998), vùng ven biển được định nghĩa là giao diện hoặc các khu vực chuyển tiếp giữa đất liền và biển, bao gồm cả các hồ nội địa lớn. Vùng ven biển không giống như các lưu vực sông, không có ranh giới tự nhiên chính xác, rõ ràng để khoanh định khu vực ven biển. Đặng Thị Hoa (2017) định nghĩa vùng ven biển là các mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tương hỗ giữa lục địa và biển, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hệ tự nhiên và hệ nhân văn, các ngành và người sử dụng tài nguyên vùng bờ theo cả cấu trúc dọc và cấu trúc ngang, giữa cộng đồng dân địa phương và các thành phần kinh tế khác.
Như vậy, vùng ven biển là dải tương đối hẹp của nước, đất đai và các yếu tố tự nhiên có tính năng là bãi biển, vùng đất ngập nước, cửa sông, đầm phá, các rạn san hô và cồn.5 Thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp Dựa trên những khái niệm, quan điểm về BĐKH, về thích ứng với BĐKH, về SXNN, và theo Đặng Thị Hoa và Chu Thị Thu (2013) thì thích ứng với BĐKH trong SXNN là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoạt động canh tác nông nghiệp nhằm giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH gây ra và có thể tận dụng các cơ hội do BĐKH mang lại cho SXNN. Như vậy, bản chất của thích ứng với BĐKH trong SXNN chính là thay đổi nhận thức, là thay đổi hành vi ứng xử của người dân nhằm ứng phó với các điều kiện khí hậu, thời tiết cực đoan ở hiện tại hoặc tiềm ẩn trong tương lai để giảm thiểu thiệt hại và có thể tận dụng các cơ hội của nó nếu có cho SXNN. Thích ứng với BĐKH trong SXNN là cách mà người dân làm để ngày càng giảm thiểu được thiệt hại do BĐKH gây ra cho SXNN, để hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, làm muối, nuôi trồng thủy sản,… ít bị tổn thương, giữ được năng suất cao và ổn định,… từ đó góp phần nâng cao kết quả và hiệu quả trong SXNN cho gia đình (Đặng Thị Hoa và Chu Thị Thu, 2013). Cũng theo nghiên cứu của Đặng Thị Hoa và Chu Thị Thu (2013) thì: (i) Nghiên cứu thích ứng với BĐKH trong SXNN bao gồm những nghiên cứu thích ứng với khí hậu hiện tại cũng như với khí hậu trong tương lai; (ii) Thích ứng diễn ra ở cả trong tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội.