Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Mối quan hệ tương hỗ giữa con người và môi trường tự nhiên là một trong những vấn đề trọng tâm của phát triển bền vững. Môi trường đóng vai trò cung cấp không gian sinh sống, cung cấp tài nguyên thiết yếu như đất, nước, không khí, khoáng sản phục vụ sinh hoạt, sản xuất, đồng thời là nơi tiếp nhận chất thải. Tuy nhiên, hoạt động khai thác tài nguyên quá mức cùng lượng chất thải phát sinh ngày càng lớn đã vượt quá khả năng tự làm sạch và phân hủy của các hệ sinh thái. Nhận thức đúng đắn của cộng đồng được xác định là tiền đề tiên quyết để hình thành nếp sống văn minh và trách nhiệm đối với môi trường sinh thái.
Thị trấn Trùng Khánh thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng là địa bàn vùng biên giới có tuyến tỉnh lộ (quốc lộ) 206 chạy qua, giữ vai trò đầu mối giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội giữa các xã trong toàn huyện. Thị trấn có tổng diện tích tự nhiên là 451,75 ha, địa giới hành chính gồm 13 tổ dân phố (đánh số từ 1 đến 13) và 2 xóm ngoại vi (Nặm Lìn, Thang Lý). Với địa hình tương đối bằng phẳng, thị trấn thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và mở rộng dịch vụ thương mại. Cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự gia tăng dân số và lao động tập trung đã gây áp lực ngày càng lớn lên tài nguyên đất, nước, không khí, dẫn đến suy giảm diện tích rừng và phát sinh chất thải. Tình trạng ô nhiễm cục bộ xuất hiện tại các khu chợ, chợ cóc, hàng quán và dọc các trục đường giao thông, đặc biệt là tại ba tổ dân phố trọng điểm 4, 5 và 9 nằm quanh chợ trung tâm huyện – nơi mật độ dân cư tập trung đông và tiếp nhận lượng lớn khách thập phương vào các phiên chợ trong tuần và dịp cuối tuần. Nhận thức và hiểu biết của cư dân địa phương về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những hành vi gây ô nhiễm môi trường sống.
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Vũ Hà Khánh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học môi trường tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên dưới sự hướng dẫn của TS. Dư Ngọc Thành. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:
-
Mục tiêu tổng quát: Xác định mức độ nhận thức của người dân về môi trường, từ đó đề xuất những giải pháp giáo dục phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường sống tại địa bàn thị trấn Trùng Khánh.
-
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá nhận thức của người dân về một số vấn đề ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.
- Đánh giá sự hiểu biết của người dân về Luật Môi trường của Việt Nam.
- Đánh giá ý thức của người dân về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn Thị trấn Trùng Khánh.
-
Yêu cầu nghiên cứu:
- Phản ánh đúng hiện trạng môi trường và nhận thức của người dân.
- Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ, khách quan.
- Đảm bảo những kiến nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương.
-
Đối tượng nghiên cứu: Sự hiểu biết của người dân về một số vấn đề môi trường.
-
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung tìm hiểu, đánh giá nhận thức, sự hiểu biết của người dân trên địa bàn Thị trấn Trùng Khánh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng về một số vấn đề môi trường bức xúc hiện nay.
-
Không gian và thời gian: Địa điểm nghiên cứu tại Thị trấn Trùng Khánh; đơn vị thực tập là Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/2014 đến tháng 4/2014 (khóa luận hoàn thành và bảo vệ năm 2015).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập khung lý luận dựa trên việc chuẩn hóa các định nghĩa chuyên ngành và rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý môi trường tại Việt Nam:
- Hệ thống khái niệm cơ bản: Định nghĩa rõ ràng các thuật ngữ học thuật bao gồm: Nhận thức (quá trình phản ánh thế giới khách quan vào tư duy); Môi trường (các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người); Thành phần môi trường (đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái); Ô nhiễm môi trường (sự biến đổi các thành phần môi trường không phù hợp tiêu chuẩn); Hoạt động bảo vệ môi trường; Phát triển bền vững; Rác thải và Chất thải (thể rắn, lỏng, khí); Quản lý chất thải (phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế); Phế liệu; Sự cố môi trường; Quản lý môi trường; Thông tin về môi trường.
- Khung văn bản quy phạm pháp luật: Khóa luận trích dẫn hệ thống văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu gồm: Luật Bảo vệ môi trường số 29/2005/L-CTN; Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12; các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính gồm Nghị định 80/2006/NĐ-CP, Nghị định 81/2006/NĐ-CP, Nghị định 21/2008/NĐ-CP, Nghị định 121/2004/NĐ-CP; Nghị định 175/NĐ-CP (1994); Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị quyết 35/NQ-CP (2013) về các vấn đề cấp bách trong lĩnh vực BVMT; TCVN 6696-2000 về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh; Thông tư 05/2008/TT-BTNMT, Thông tư 01/2012/TT-BTNMT; Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD; các văn bản của địa phương như Nghị quyết 03/2010/NQ-HĐND và Quyết định 22/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh Cao Bằng về phân cấp nhiệm vụ BVMT; Quyết định 569/QĐ-UBND xử lý cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu hợp vệ sinh QCVN 01:2011/BYT của Bộ Y tế.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp giữa nghiên cứu bàn giấy và khảo sát xã hội học thực địa:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập thông tin, tài liệu, số liệu thống kê từ mạng internet, sách báo chuyên ngành và báo cáo hành chính từ các phòng ban chức năng thuộc UBND Thị trấn Trùng Khánh và UBND Huyện Trùng Khánh.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn theo bộ câu hỏi in sẵn kết hợp khảo sát thực địa. Cỡ mẫu điều tra gồm 60 hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên tại ba tổ dân phố trung tâm là tổ 4, tổ 5 và tổ 9. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn trực tiếp cán bộ phụ trách môi trường của thị trấn và 02 nhân viên thu gom rác thải.
- Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Mẫu khảo sát gồm 58% nam giới và 42% nữ giới; độ tuổi dao động từ 17 đến 75 tuổi; trình độ dân trí tương đối đồng đều, người dân sử dụng thành thạo tiếng phổ thông; nghề nghiệp đa dạng gồm buôn bán, tiểu thủ công nghiệp, cán bộ công chức, hưu trí và nông nghiệp; cơ cấu mức sống gồm 28% hộ khá/giàu, 57% hộ trung bình khá và 15% hộ nghèo.
- Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu: Ứng dụng phương pháp thống kê mô tả để xử lý, tổng hợp số liệu thu thập được từ các phiếu điều tra, lập bảng thống kê so sánh tỷ lệ phần trăm theo từng nhóm biến số (học vấn, giới tính, nghề nghiệp).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Nội dung chương trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa, gia tăng dân số gây suy thoái môi trường tại thị trấn biên giới Trùng Khánh. Chương xác lập mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 yêu cầu nghiên cứu, đồng thời khẳng định ý nghĩa học tập, nghiên cứu khoa học và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận đối với công tác quản lý tài nguyên và môi trường ở cấp cơ sở.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa khoa học và danh mục các văn bản pháp luật về môi trường. Đồng thời, chương phân tích bức tranh thực tiễn môi trường toàn cầu (suy giảm diện tích rừng với 6 tỷ tấn CO2 thải thêm mỗi năm; khan hiếm nước ngọt khi chỉ có 0,01% lượng nước sử dụng được; cạn kiệt năng lượng hóa thạch; Trái đất ấm lên 0,7 độ C theo báo cáo IPCC; sức ép bùng nổ dân số đạt 48 người/km2). Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp các chỉ số: độ che phủ rừng đạt 41% năm 2014 nhưng có tới gần 70% là rừng thứ sinh nghèo; tính đa dạng sinh học cao (11.373 loài thực vật bậc cao, 310 loài thú, 870 loài chim...); đất canh tác bình quân đầu người xếp thứ 159/200 quốc gia; ô nhiễm tại 1.450 làng nghề truyền thống và các vùng nông thôn với tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 28-30%. Cuối cùng, chương điểm qua các vấn đề ô nhiễm cục bộ tại chợ và các khu dân cư đông đúc của thị trấn Trùng Khánh.
Phần 3: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
Chương trình bày chi tiết về đối tượng nghiên cứu (nhận thức của người dân), phạm vi, thời gian nghiên cứu (từ tháng 1/2014 đến tháng 4/2014), địa điểm thực tập và nghiên cứu. Thiết kế nội dung nghiên cứu bao gồm: điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; hiện trạng môi trường (nước sinh hoạt, nước thải, rác thải, nhà vệ sinh, y tế); nhận thức của người dân về khái niệm môi trường, ảnh hưởng ô nhiễm đến sức khỏe, ý thức phân loại rác, hiểu biết về Luật Bảo vệ môi trường; đánh giá chung và giải pháp. Chương cũng quy định rõ phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 60 hộ tại các tổ 4, 5, 9 cùng phương pháp phỏng vấn cán bộ chuyên môn và phân tích số liệu thống kê.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương tập trung toàn bộ dữ liệu khảo sát và phân tích thực trạng:
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội: Thị trấn Trùng Khánh có diện tích 451,75 ha (đất nông nghiệp chiếm 72,87%, đất phi nông nghiệp chiếm 27,0%, đất chưa sử dụng chiếm 0,12%). Dân số gồm 1.218 hộ (130 hộ nghèo, 739 hộ trung bình, 349 hộ khá và giàu). Sản lượng lương thực có hạt đạt 2.721,4 tấn (bình quân 520 kg/người/năm); cây công nghiệp ngắn ngày đạt 64,51 tấn. Tiểu thủ công nghiệp có 7 xưởng cơ khí, 5 xưởng mộc, 10 doanh nghiệp và hợp tác xã; lĩnh vực dịch vụ có khoảng 120 hộ kinh doanh với thu nhập bình quân 3 triệu đồng/người/tháng. Hệ thống trường học gồm 1 mầm non chuẩn quốc gia (395 học sinh, 43 giáo viên), 1 tiểu học chuẩn quốc gia (578 học sinh, 41 giáo viên), 2 trường THCS (542 học sinh, 40 giáo viên) và 2 trường THPT. Y tế cơ sở thực hiện 580 lượt khám trong 11 tháng năm 2014, tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi là 6,6%.
- Hiện trạng môi trường: 81,7% hộ dùng nước máy, 11,7% dùng giếng khoan, 6,6% dùng giếng đào; 100% đánh giá nước không màu, không mùi nhưng chỉ có 10% hộ có thiết bị lọc đơn giản. Về nước thải: 88,3% hộ có cống nắp đậy, 8,3% cống lộ thiên, 3,4% không có cống; 92,0% xả vào cống chung và 8,0% xả vào ao hồ, bể chứa; thị trấn chưa có trạm xử lý nước thải tập trung. Về rác thải: 85,0% hộ thải dưới 5 kg/ngày, 15,0% hộ thải từ 5-20 kg/ngày; toàn thị trấn phát sinh ước tính khoảng 6,125 kg rác/ngày. Có 95,0% hộ đổ rác theo hợp đồng dịch vụ thu gom (phí 20.000 đồng/tháng, tần suất 1 lần/ngày); 85,0% hộ có tái sử dụng một phần chất thải (chất hữu cơ làm phân bón, bán phế liệu, rơm rạ làm chất đốt). Về nhà vệ sinh: 78,3% hộ sử dụng nhà tiêu tự hoại, 21,7% sử dụng nhà tiêu hai ngăn.
- Nhận thức của người dân: Khái niệm môi trường có 50,0% trả lời đúng; ô nhiễm môi trường có 58,4% trả lời đúng; rác vô cơ và hữu cơ có 83,0% trả lời đúng. Tỷ lệ nhận biết biểu hiện ô nhiễm tăng dần theo học vấn: tiểu học 0%, THCS 58,8%, THPT 81,8%, trung cấp/cao đẳng và đại học đạt 100% (trung bình toàn mẫu đạt 73,3%). Về phân loại rác: 61,6% đánh giá rất quan trọng, 33,4% đánh giá quan trọng, 5,0% đánh giá không quan trọng; tuy nhiên người dân chưa thực hiện phân loại tại nguồn. Về pháp luật môi trường: 73,3% người được hỏi biết về Luật Bảo vệ môi trường (tỷ lệ biết cao nhất ở cán bộ công chức đạt 100%, học sinh sinh viên đạt 100%, hưu trí đạt 81,8%; thấp nhất ở nông nghiệp đạt 46,2% và buôn bán đạt 42,9%). Người dân nắm được thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND xã, huyện và cam kết bảo vệ môi trường hộ kinh doanh.
- Đánh giá và giải pháp: Phân tích những tồn tại (nước máy dư Clo, nước đục mùa mưa, lực lượng thu gom rác mỏng, chưa phân loại rác) và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.
Phần 5: Kết luận và khuyến nghị
Chương tổng hợp các phát hiện định lượng chính về tỷ lệ công trình vệ sinh, thu gom rác, mức độ nhận thức của người dân, rút ra nhận xét về khoảng cách giữa nhận thức và hành động thực tế, đồng thời nêu kiến nghị chính quyền địa phương cần quan tâm đầu tư nguồn lực và đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục môi trường.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã định lượng hóa toàn bộ hiện trạng hạ tầng kỹ thuật môi trường và mức độ nhận thức của người dân thị trấn Trùng Khánh qua các số liệu khảo sát thực địa cụ thể:
| Nhóm chỉ tiêu khảo sát |
Phân loại chi tiết |
Tỷ lệ (%) |
| Nguồn nước sinh hoạt (N=60) |
Nước máy |
81,7% |
|
Giếng khoan |
11,7% |
|
Giếng đào |
6,6% |
|
Nguồn ao, sông, suối |
0,0% |
| Hạ tầng thoát nước thải (N=60) |
Cống thải có nắp đậy |
88,3% |
|
Cống thải lộ thiên |
8,3% |
|
Không có cống thải |
3,4% |
| Nơi tiếp nhận nước thải (N=60) |
Cống thải chung |
92,0% |
|
Bể chứa |
8,0% |
| Hình thức thải bỏ rác (N=60) |
Thu gom theo hợp đồng (20.000 đ/tháng) |
95,0% |
|
Đổ ở bãi rác chung |
3,3% |
|
Hố rác riêng |
1,7% |
| Loại hình nhà vệ sinh (N=60) |
Nhà vệ sinh tự hoại |
78,3% |
|
Nhà vệ sinh hai ngăn |
21,7% |
| Hiểu biết khái niệm môi trường (N=60) |
Khái niệm môi trường (trả lời đúng) |
50,0% |
|
Khái niệm ô nhiễm môi trường (trả lời đúng) |
58,4% |
|
Khái niệm rác vô cơ và hữu cơ (trả lời đúng) |
83,0% |
| Nhận biết biểu hiện ô nhiễm theo học vấn |
Tiểu học (Biết / Không biết) |
0,0% / 100,0% |
|
Trung học cơ sở (Biết / Không biết) |
58,8% / 41,2% |
|
Trung học phổ thông (Biết / Không biết) |
81,8% / 18,2% |
|
Trung cấp / Cao đẳng (Biết / Không biết) |
100,0% / 0,0% |
|
Đại học / Sau đại học (Biết / Không biết) |
100,0% / 0,0% |
|
Tính chung toàn bộ mẫu khảo sát |
73,3% biết / 26,7% không biết |
| Hiểu biết văn bản Luật BVMT theo nghề |
Cán bộ, công nhân viên chức nhà nước |
100,0% biết |
|
Học sinh, sinh viên |
100,0% biết |
|
Về hưu, già yếu, không việc làm |
81,8% biết |
|
Lao động nông nghiệp |
46,2% biết (30,8% không biết) |
|
Buôn bán, dịch vụ |
42,9% biết (42,9% không biết) |
|
Nghề tự do |
50,0% biết (33,3% không biết) |
|
Tính chung toàn bộ mẫu khảo sát |
73,3% biết / 18,3% không / 8,4% KTL |
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
Trên cơ sở kết quả khảo sát, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
- Xã hội hóa công tác quản lý chất thải: Huy động tối đa sự tham gia của người dân; đưa tiêu chí bảo vệ môi trường vào quy chuẩn bình xét "Gia đình văn hóa"; yêu cầu nộp đầy đủ phí dịch vụ và bỏ rác đúng nơi quy định.
- Hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cộng đồng: Chính quyền địa phương mở các lớp tập huấn hướng dẫn quy trình phân loại rác tại nguồn, áp dụng các kỹ thuật xử lý rác phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
- Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục: Sử dụng hệ thống loa truyền thanh, băng rôn, áp phích, tờ rơi; phát động các phong trào làm sạch đường phố, ngõ xóm tự quản; vận động người dân tự giác tham gia chiến dịch "Giờ Trái đất"; lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh ngay từ bậc tiểu học.
- Củng cố hạ tầng và nhân lực thu gom: Tăng cường lực lượng thu gom rác do lượng thải ngày càng lớn; thành lập các tổ/đội thu gom rác dân lập tại các thôn, xóm; lập quy hoạch tổng thể thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Tăng cường chế tài và giám sát: Vận dụng các điều khoản xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường; thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh và cá nhân trên địa bàn.
Đóng góp của công trình
Khóa luận đã cung cấp một bộ cơ sở dữ liệu điều tra thực địa có hệ thống về hiện trạng hạ tầng kỹ thuật và thực trạng nhận thức môi trường của cư dân tại thị trấn Trùng Khánh. Đây là tài liệu điều tra xã hội học môi trường cụ thể ở cấp cơ sở, đóng vai trò làm tài liệu tham khảo cho Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Trùng Khánh cũng như các cơ quan quản lý tại địa phương trong việc hoạch định chính sách tuyên truyền, quy hoạch hạ tầng thu gom rác và quản lý vệ sinh môi trường nông thôn - miền núi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận:
- Phạm vi khảo sát thực địa còn hẹp, mới chỉ tập trung điều tra 60 hộ gia đình tại 3 tổ dân phố trung tâm (tổ 4, tổ 5, tổ 9), chưa mở rộng khảo sát hết 13 tổ dân phố và 2 xóm ngoại vi của thị trấn Trùng Khánh.
- Thời gian nghiên cứu tương đối ngắn (kéo dài trong 4 tháng, từ tháng 1 đến tháng 4/2014) và nguồn lực nghiên cứu hạn chế.
- Đề tài chủ yếu tiếp cận dưới góc độ điều tra xã hội học và thống kê mô tả; chưa tiến hành lấy mẫu quan trắc phân tích trong phòng thí nghiệm để kiểm chứng định lượng các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh của nước sinh hoạt, nước thải và đất tại địa bàn.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô mẫu điều tra xã hội học sang toàn bộ các tổ dân phố, các xóm nông nghiệp và các xã lân cận trong huyện Trùng Khánh để có dữ liệu so sánh đa chiều.
- Kết hợp phương pháp điều tra nhận thức với việc lấy mẫu quan trắc môi trường thực tế (đo đạc nồng độ Clo dư trong nước máy, phân tích BOD, COD của nước thải sinh hoạt và hàm lượng kim loại nặng trong đất).
- Nghiên cứu ứng dụng các mô hình kỹ thuật xử lý rác hữu cơ quy mô hộ gia đình (như ủ phân compost) và giải pháp xử lý nước thải chi phí thấp phù hợp với địa hình đồi núi biên giới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Xã hội học Nông thôn tham khảo về quy trình thiết kế bảng câu hỏi điều tra nhận thức cộng đồng, phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa và kỹ thuật tổng hợp số liệu thống kê mô tả.
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, thị trấn và Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện (đặc biệt tại các huyện miền núi phía Bắc) tham khảo thực trạng và các giải pháp xã hội hóa công tác thu gom rác, quản lý nhà tiêu hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn QCVN 01:2011/BYT.
- Các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên) sử dụng các số liệu phân hóa nhận thức theo giới tính, lứa tuổi và nghề nghiệp để xây dựng chương trình truyền thông phân loại rác thải tại nguồn.
Nội dung đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống 13 bảng số liệu thống kê chi tiết tại Phần 4, phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa trình độ học vấn, nhóm nghề nghiệp đối với mức độ hiểu biết pháp luật và ý thức bảo vệ môi trường của người dân.
Câu hỏi thường gặp
1. Khảo sát thực địa của khóa luận được thực hiện tại những khu vực cụ thể nào và quy mô mẫu là bao nhiêu?
Khảo sát được thực hiện tại ba tổ dân phố trọng điểm gồm tổ 4, tổ 5 và tổ 9 thuộc Thị trấn Trùng Khánh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Quy mô mẫu khảo sát trực tiếp là 60 hộ gia đình (được chọn ngẫu nhiên, kết hợp phỏng vấn cán bộ môi trường thị trấn và 02 nhân viên thu gom rác).
2. Tỷ lệ tiếp cận nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh và thực trạng sử dụng thiết bị lọc nước của các hộ dân trong nghiên cứu như thế nào?
Trong 60 hộ điều tra, có 81,7% hộ sử dụng nước máy (49 hộ), 11,7% sử dụng nước giếng khoan (7 hộ) và 6,6% sử dụng giếng đào (4 hộ); không có hộ nào dùng trực tiếp nước sông suối. Dù 100% người dân đánh giá nước không màu, không mùi, nhưng chỉ có 10% số hộ (6 hộ) có sử dụng thiết bị lọc (chủ yếu là bể lắng hoặc bình lọc đơn giản, chưa đảm bảo quy chuẩn xử lý triệt để).
3. Mức độ nhận thức của người dân về các biểu hiện của ô nhiễm môi trường phân hóa theo trình độ học vấn ra sao?
Mức độ nhận thức tỷ lệ thuận với trình độ học vấn: nhóm trình độ tiểu học có 0% nhận biết được biểu hiện ô nhiễm (5/5 người không biết); nhóm trung học cơ sở có 58,8% người biết (10/17 người); nhóm trung học phổ thông có 81,8% người biết (18/22 người); nhóm trung cấp/cao đẳng (12 người) và đại học/sau đại học (4 người) đạt tỷ lệ nhận biết 100%. Tính chung toàn mẫu, tỷ lệ nhận biết biểu hiện ô nhiễm là 73,3%.
4. Mức phí dịch vụ và tần suất thu gom rác thải sinh hoạt tại thị trấn Trùng Khánh ở thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu?
Người dân tham gia dịch vụ thu gom rác đóng mức phí 20.000 đồng/hộ/tháng theo hợp đồng dịch vụ. Lực lượng công nhân môi trường tiến hành thu gom rác với tần suất 1 ngày/lần. Tỷ lệ hộ dân tham gia hình thức thu gom theo hợp đồng này đạt 95,0% (57/60 hộ).
5. Nhận thức của người dân về Luật Bảo vệ môi trường có sự khác biệt như thế nào giữa các nhóm nghề nghiệp?
Tỷ lệ hiểu biết về văn bản pháp luật môi trường đạt mức tuyệt đối 100% ở nhóm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước (15/15 người) và nhóm học sinh, sinh viên (8/8 người). Nhóm cán bộ hưu trí, già yếu đạt 81,8% (9/11 người). Ngược lại, tỷ lệ hiểu biết thấp nhất thuộc về nhóm trực tiếp sản xuất nông nghiệp với 46,2% người biết (6/13 người) và nhóm buôn bán, dịch vụ với 42,9% người biết (3/7 người).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Hà Khánh đã phản ánh bức tranh toàn diện về hiện trạng hạ tầng kỹ thuật và thực trạng nhận thức môi trường của cộng đồng dân cư thị trấn Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2014 - 2015. Kết quả điều tra thực nghiệm trên 60 hộ gia đình chỉ ra rằng mặc dù tỷ lệ tiếp cận nước máy (81,7%), cống thoát nước có nắp (88,3%) và dịch vụ thu gom rác (95,0%) đạt mức cao, nhưng việc xử lý nước thải tập trung và thói quen phân loại rác tại nguồn vẫn chưa được thực hiện triệt để. Mức độ hiểu biết về ô nhiễm và pháp luật môi trường có sự phân hóa sâu sắc theo trình độ học vấn và tính chất nghề nghiệp của người dân. Các giải pháp do tác giả đề xuất nhấn mạnh vào việc đẩy mạnh xã hội hóa quản lý rác thải, củng cố lực lượng thu gom và tăng cường tuyên truyền, giáo dục gắn với các tiêu chí văn hóa ở cấp cơ sở.