Chương 1 LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 1. Một số khái niệm 1. Nhận thức Khái niệm nhận thức Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê làm chủ biên: “Nhận thức là một quá trình hoặc kết quả của sự phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, là quá trình con người nhận biết, hiểu biết về thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó”6. Tác giả Nguyễn Khắc Viện nêu định nghĩa trong Từ điển tâm lý học: "Nhận thức là một quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao giờ ngừng ở trình độ nào vì không bao giờ nắm bắt hết được toàn bộ hiện thực, phải thấy dần những cái sai, tức không ăn khớp với hiện thực để đi hết bước này đến bước khác”7.
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn8. Các mức độ của nhận thức Nhận thức có 3 mức độ đó là nhận biết, thông hiểu và vận dụng. Nhận biết là mức độ thấp nhất của quá trình về bản chất của sự vật, hiện tượng. Ở mức độ này, con người mới chỉ có khả năng phản ánh những dấu hiệu cụ thể, bên ngoài của các sự vật, hiện tượng mà chưa thể chỉ ra được các mối liên hệ hay dấu hiệu bản chất, có tính quy luật của chúng.
Tiếp đến là thông hiểu, mức độ này là kết quả của quá trình nhận thức lý tính, được đánh giá bằng 6 Hoàng Phê: Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, H. 7 Nguyễn Khắc Viện: Từ điển Tâm lý học, Nxb Thế giới, H. 8 Trần Việt Thắng: Triết học Mác - Lênin, Nxb Bách khoa Hà Nội, H. 25 việc nắm vững những dấu hiệu đặc trưng cơ bản, những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng.
Dù đã nhận thức được các dấu hiệu cơ bản của sự vật, hiện tượng nhưng khả năng vận dụng những hiểu biết này trong việc giải quyết các tình huống còn hạn chế. Mức độ cao nhất của nhận thức đó là vận dụng, nắm chắc kiến thức và áp dụng vào thực tế, thể hiện ở hoạt động, lao động của con người, ở giá trị của sản phẩm9. Chính trị Chính trị là một hiện tượng xã hội ra đời gắn liền với sự ra đời của giai cấp và Nhà nước. Từ khi xuất hiện đến nay, chính trị đã có những ảnh hưởng to lớn tới quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và toàn nhân loại.
Bởi vậy bàn và nghiên cứu về chính trị cũng được các nhà nghiên cứu tốn không ít giấy mực. Trước khi chính trị học ra đời với tư cách là một khoa học nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể, có đối tượng, phương pháp, khái niệm, phạm trù., đã có rất nhiều các quan niệm, quan điểm, thậm chí là tư tưởng, học thuyết của các học giả khác nhau bàn về các khía cạnh của chính trị. Có tác giả định nghĩa: “Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực Nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích”.10 Trong cuốn sách “Giáo trình hệ thống chính trị Việt Nam” của tác giả PGS. Đinh Xuân Lý có viết: “Chính trị là một hiện tượng khách quan của đời sống xã hội, là một bộ phận trọng yếu của kiến trúc thượng tầng trong xã 9 Bùi Thị Phương Thảo: Luận văn thạc sĩ “Nhận thức của sinh viên về an toàn tình dục”, H.
2012 10 Bùi Trọng Tài-Lê Văn Cảnh: Tập bài giảng Chính trị học đại cương, Đại học Thái Nguyên, H. 26 hội đã hình thành nhà nước, được thể hiện qua các mối quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia, quốc tế thông qua việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước và tiệc tham gia vào công việc nhà nước của người dân”.11 Ngoài ra còn có rất nhiều định nghĩa với các cách tiếp cận khác nhau về chính trị tuy nhiên tác giả sử dụng định nghĩa của PGS. Đinh Xuân Lý trong cuốn sách “Giáo trình hệ thống chính trị Việt Nam” để tiếp cận. Hệ thống chính trị Việt Nam Trên nền tảng một chế độ chính trị, hệ thống chính trị được thành lập.
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các thiết chế quyền lực chính trị, được xã hội thừa nhận bao gồm các tổ chức chính trị như Đảng phái, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội có mối quan hệ mang tính pháp quy với nhau cùng liên kết nhằm thực hiện mục tiêu chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Như vậy, cấu thành hệ thống chính trị bao gồm các thực thể: Đảng chính trị, Nhà nước, Các tổ chức đại diện cho các lực lượng khác nhau trong xã hội. Mỗi thực thể nêu trên lại có những chức năng riêng và đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự liên kết đó tạo thành một cơ chế hoạt động nhịp nhàng, giúp cho giai cấp thống trị đạt được mục tiêu chính trị của mình.
Do đó, hệ thống chính trị chính là công cụ, là phương tiện và là phương thức tổ chức thực tiễn quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Trong cuốn sách Giáo trình Hệ thống chính trị Việt Nam, PGS.TS Đinh Xuân Lý định nghĩa về hệ thống chính trị nói chung như sau: “Hệ thống chính trị là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội. Trong hệ thống đó, nhà nước, đảng chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội là những thành tố cơ bản, có quan hệ với nhau về mục đích, chức năng, nhệm vụ trong việc hoạch định và thực hiện các nhiệm vụ chính trị”.12 11 Đinh Xuân Lý: Giáo trình Hệ thống chính trị Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, H. 31 12 Đinh Xuân Lý: Giáo trình Hệ thống chính trị Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, H.
3 27 Trong đề tài này, tác giả sử dụng nội dung hệ thống chính trị Việt Nam được cấu thành bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Liên đoàn lao động, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam). Đảng Cộng sản Việt Nam Trong điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI có định nghĩa về Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”13. Hiến pháp 2013 quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…"14. Trong đề tài này, tôi dùng định nghĩa Đảng Cộng sản Việt Nam được sử dụng trong điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 13 Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2011, tr 4 14 Nguyễn Thị Thu Trang: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam thể hiện trong Điều 4 Hiến pháp 2013,https://vienkiemsathanam.vn/vi/news/KIEM-SAT-VIEN-VIET-9/Vai-tro-lanh-dao-cua-Dang-Cong -San-Viet-Nam-the-hien-trong-Dieu-4-Hien-phap-2013 28 Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong suốt quá trình cách mạng của dân tộc Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm tính định hướng chính trị cho sự phát triển đất nước, tạo lập cơ sở chính trị cho tổ chức và hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Có nhiều cách để thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị tuy nhiên trong đề tài này, tôi sử dụng phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị để làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy.
Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của Nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống phương pháp, hình thức, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác mà Đảng vận dụng dể sự dụng Nhà nước, tác động vào Nhà nước và bằng Nhà nước nhằm thực hiện các nội dung cầm quyền, đạt mục tiêu cuối cùng của Đảng. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị bằng những phương thức chủ yếu sau: Một là, lãnh đạo bằng chủ trương, nghị quyết: Đảng đề ra các chủ trương, nghị quyết trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là những quan điểm, những nguyên tắc, những tư tưởng chỉ đạo các lĩnh vực hoạt động của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại để các tổ chức khác trong hệ thống chính trị vận dụng, thể chế hoá thành các 29 chương trình, kế hoạch công tác và tổ chức thực hiện phù hợp với chức năng của từng tổ chức.