MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, do tác động của nền kinh tế thị trường, sự phát triển vượt bậc của Kinh tế - Văn hoá – Chính trị đặc biệt là sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin đã đem lại những thành tựu đáng ghi nhận cho nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu ấy chúng ta phải đối diện với mặt trái của nó đó là sự du nhập của nhiều quan niệm, khuynh hướng phát triển khác nhau từ Phương Tây. Các vấn đề xung quanh lối sống của thanh niên đang được nhiều nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục quan tâm, xem xét.
Xã hội có nhiều sự biến đổi theo hướng hiện đại đòi hỏi thế hệ trẻ cũng phải thay đổi để thích ứng được với sự biến đổi đó. Những quan điểm, lối sống, thái độ của giới trẻ đã thay đổi rất nhiều so với lối sống truyền thống. Những cái mới đã xuất hiện, len lỏi vào đời sống của con người. Thậm chí những quan điểm, lối sống mới du nhập, đan xen ngay cả khi những cái cũ vẫn còn đang tồn tại, tạo ra những mâu thuẫn trong lòng con người.
Trong thời buổi hiện nay, những quan điểm về quan hệ nam nữ, tình yêu, hôn nhân và gia đình đã có nhiều sự thay đổi. Dường như mọi cái không còn khắt khe như trước, không phải chịu nhiều quy định, lễ giáo như trước, mọi người có thể tự do, thoải mái hơn trong các mối quan hệ. Đó cũng là một lý do khiến cho các giá trị bị bào mòn và mất đi, không còn được tôn trọng và giữ gìn như trước. Thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi học sinh, sinh viên, đang có những cách nhìn nhận sai lệch về sự hiện đại của những lối sống mới.
Đây cũng là nhóm dễ chịu sự ảnh hưởng, tác động của những biến đổi nhất định. Hiện nay, do có sự biến đổi nhanh chóng về nhận thức và tư duy dẫn đến việc nảy sinh nhiều hiện tượng ở giới trẻ như: Sống thử, quan hệ tình dục trước hôn nhân, hiện tượng nạo phá thai… Quan hệ tình dục của học sinh, sinh viên hiện nay đang có xu hướng gia tăng và trở thành vấn đề được xã hội hết sức quan tâm bởi những hậu quả mà nó gây ra cho một bộ phận không nhỏ sinh viên. Một thực tế đang được chứng minh, đó là giới trẻ hiện nay quan hệ tình dục khá sớm, có khi chỉ ở độ tuổi 15 - 16, các em đã rất “sành điệu” trong lĩnh vực này. Quan hệ tình dục sớm dẫn đến cuộc sống không an toàn, bỏ học, khép mình, dễ buồn chán, lo lắng, bất an, sức khỏe suy giảm, hung 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bạo, có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, vô sinh… Đó là những hậu quả không tốt để bản thân mỗi người bước vào ngưỡng cửa cuộc đời.
Những tác động khách quan bên ngoài của đời sống xã hội là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều sinh viên sớm có quan hệ tình dục với bạn khác giới. Ảnh hưởng từ sách báo, phim ảnh và nhất là internet có nội dung đồi trụy đối với mọi người là rất lớn. Việc xem những cảnh phim “nóng” không còn lén lút như trước mà có thể xem công khai trên các website. Công tác giáo dục giới tính vào trong nhà trường còn thiếu về sức khoẻ sinh sản của thanh thiếu niên.
Như vậy, quan hệ tình dục trước hôn nhân đang là vấn đề cần được quan tâm, xem xét vì nó dẫn tới gia tăng hiện tượng có thai ngoài ý muốn và nạo phá thai, ảnh hưởng đến sức khoẻ thể chất, gây ra lo âu, tổn thương tinh thần của thanh niên. Những thông tin thu được từ việc tìm hiểu nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân sẽ giúp nâng cao sự hiểu biết của họ về tình dục, giúp họ lựa chọn lối sống lành mạnh trong tình yêu và có biện pháp phòng tránh các nguy cơ quan hệ tình dục trước hôn nhân. Đồng thời, kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung về lý luận nhận thức của lứa tuổi thanh niên, sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân” để làm đề tài luận văn cho mình.
Mục đích nghiên cứu - Phát hiện thực trạng nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân. - Đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức, giúp sinh viên lựa chọn lối sống lành mạnh trong tình yêu, biết cách phòng tránh QHTDTHN. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3. Đối tƣợng nghiên cứu Nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân.
Khách thể nghiên cứu - Khách thể là 368 người bao gồm - Trường ĐHKHXH&NV (184 sinh viên) bao gồm: Khoa Tâm lý học (92 sinh viên), Khoa Du lịch (92 sinh viên). - Trường ĐHKHTN (184 sinh viên) bao gồm: Khoa Môi trường (92 sinh viên), Khoa Toán tin (92 sinh viên). 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Trong 368 sinh viên có 184 khách thể là nam, 184 khách thể là nữ. Trong 368 sinh viên có 64 sinh viên đã QHTD.
Giả thuyết nghiên cứu - Quan hệ tình dục trước hôn nhân diễn ra tương đối phổ biến trong sinh viên. - Không có sự khác biệt trong nhận thức giữa sinh viên bốn năm học, giữa sinh viên nam và nữ. QHTDTHN ở nam giới cao hơn nữ giới. QHTDTHN chịu tác động của các đặc điểm cá nhân sinh viên và các yếu tố bên ngoài như gia đình, nhóm bạn bè, nhà trường và các phương tiện truyền thông.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về quan hệ tình dục. - Làm rõ các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài: Nhận thức, quan hệ tình dục trước hôn nhân, sinh viên, hôn nhân. - Nghiên cứu thực trạng nhận thức của sinh viên về QHTDTHN và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này. - Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức giúp sinh viên lựa chọn lối sống lành mạnh trong tình yêu, biết cách phòng tránh QHTDTHN.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu - Giới hạn phạm vi địa bàn: Quận Thanh Xuân – Hà Nội. - Giới hạn phạm vi nội dung: + Nghiên cứu thực trạng QHTDTHN ở sinh viên. + Nhận thức về QHTDTHN. + Nhận thức về biểu hiện tâm lý của thanh niên sinh viên có QHTDTHN.
+ Nhận thức về hậu quả QHTDTHN. + Nhận thức về các yếu tố tác động đến QHTDTHN. - Giới hạn phạm vi khách thể: Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu 368 sinh viên thuộc 2 Trường Đại học: Trường Đại học KHXH & NV, Trường Đại học KHTN. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. - Phương pháp phỏng vấn sâu. - Phương pháp thống kê toán học. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của thanh niên Nguồn gốc của các nghiên cứu về hoạt động tình dục đã có từ xa xưa trong lịch sử văn mình của loài người. Có thể kể đến các tác phẩm thần thoại, truyền thuyết cổ đại và các khảo luận về tình yêu như “Kama – Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius, “Bữa tiệc” của Platon…không những đặt cơ sở các chuẩn mực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu mà còn cung cấp những kiến thức nhất định về sinh học và tâm lý học trong hoạt động tình dục. Việc nghiên cứu một cách khách quan các vấn đề tình dục chỉ thực sự được tiến hành ở thời kỳ Phục Hưng khi mà bộ môn giải phẫu sinh lý người bắt đầu phát triển. Phương diện đạo đức và giáo dục của tình dục đã được người ta nghiên cứu tới.
Vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, các đề tài nghiên cứu được mở rộng. Các nhà xã hội học nửa cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 như J. Kovalevsky (Nga)…không những đã gắn sự phát triển quan hệ tình dục với các dạng hôn nhân, mà còn gắn với những yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hoá. Tuy vậy, ngay đến giữa thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về tình dục vẫn còn vấp phải sự đối kháng của các nhà cầm quyền như ở Nga, Anh và kể cả ở Mỹ.
Các cuộc điều tra tính dục lớn trong sinh viên hầu như đều gặp những trở ngại, điển hình như việc sáu nghìn bản điều tra do một uỷ ban dưới sự điều khiển của D. Iakovenko phân phát cho nữ sinh các trường đại học và cao đẳng ở Maxcơva, phần lớn đã bị cảnh sát tịch thu [17, tr 48]. Ngày nay, trước sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hoạt động tình dục đã được nghiên cứu phổ biến hơn và được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, xuất phát từ những mục đích khác nhau. Những công trình nghiên cứu về quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của thanh niên ở nƣớc ngoài.
Ở nước ngoài, ngay từ những năm 1930, giáo dục giới tính, giáo dục tính dục đã được đưa vào nhà trường. Hầu hết các nước châu Âu đều coi vấn đề QHTD thuộc quyền tự do cá nhân của mỗi người, và điều đó cần phải được tôn trọng. Khi nói đến 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vấn đề QHTDTHN, điều mà các nước quan tâm trước nhất chính là vấn đề sức khoẻ chứ không phải là các chuẩn mực, định kiến của xã hội. Các nghiên cứu gần đây thường đề cập đến kiến thức, thái độ, hành vi tình dục của giới trẻ, các ảnh hưởng tác hại của QHTD sớm, hiểu biết và việc sử dụng các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhu cầu cung cấp thông tin về lĩnh vực giới tính, tình dục cho giới trẻ…Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: - “Hành vi tình dục và sử dụng thuốc tránh thai trong độ tuổi 15 – 24 ở Uganda” – 1992 của Agyei W.
- “Thái độ, hành vi tính dục và sử dụng thuốc tránh thai của nữ thanh niên ở Bangkok”-1996 của Amara Soonthorndhada. -“Tôn giáo, AIDS và kiến thức, thái độ, niềm tin và thói quen tình dục của sinh viên đại học năm thứ nhất ở Nam phi” – 1995 của Lionel Nicholas và Kevin Durrheim… Từ đó hầu như các nước phát triển đều coi giáo dục tính dục là một vấn đề lành mạnh, đem lại tự do cho con người, vì thế cần phải nói rõ cho mọi người hiểu biết những quy luật hoạt động tình dục.