Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Hoạt động khoa học và công nghệ 1. Khái niệm khoa học Khoa học “là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” [20].
Đây là định nghĩa được UNESCO sử dụng chính thức trong các văn kiện và phổ biến trong giới khoa học trên toàn thế giới. Hệ thống tri thức ở đây được hiểu là trạng thái tĩnh tại của tri thức khoa học, được tích luỹ từ trong các hoạt động tìm tòi, sáng tạo của nhân loại thông qua các hoạt động NCKH và nó khác với tri thức kinh nghiệm - được tích luỹ một cách rời rạc, ngẫu nhiên từ kinh nghiệm cuộc sống [8]. Khái niệm nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học “là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người” [8]. Chức năng của NCKH là nhằm tìm ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng để giải thích thế giới, làm thoả mãn nhu cầu nhận thức thế giới; và tìm ra giải pháp ứng dụng vào sản xuất để cái biến thế giới, phục vụ nhu cầu tồn tại của con người.
Khái niệm công nghệ Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000), “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” [21]. Định nghĩa này cho thấy, công nghệ bao hàm cả “phần mềm” (là phần tri thức công nghệ như phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết) và “phần cứng” (các vật mang tri thức công nghệ như công cụ, phương tiện). Và chức 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng cơ bản của công nghệ là biến tri thức khoa học thành giải pháp kỹ thuật nhờ sự tổng hợp các nguồn lực để tạo ra sản phẩm. Sự khác nhau giữa tri thức khoa học và tri thức công nghệ, hiểu theo cách đơn giản, khoa học là tri thức hiểu (khám phá thế giới), còn công nghệ là tri thức làm (tạo ra sản phẩm).
Mối quan hệ giữa khoa học, NCKH và công nghệ: Giữa khoa học, NCKH và công nghệ có mối quan hệ qua lại như sau: - Khoa học, với tư cách là một kho tàng tri thức, cũng là kho tàng thông tin do loài người tạo ra qua các thời kỳ, giúp tạo ra công nghệ. Và cũng chính khoa học, bằng việc cung cấp thông tin cho NCKH, đã hỗ trợ và thúc đẩy NCKH phát triển. - NCKH là một hoạt động xã hội của con người nhằm tạo ra tri thức để thoả mãn nhu cầu nhận thức thế giới và tạo ra công nghệ để thoả mãn nhu cầu biến đổi thế giới. - Công nghệ, do bản thân cũng chính là thông tin với các thông số kỹ thuật của nó nên cũng bổ sung cho kho tàng tri thức; bên cạnh đó, nó cũng có chức năng như những vật mang tri thức dưới dạng vật lý (ổ cứng máy tính) giúp lưu trữ tri thức.
Ngày nay, công nghệ đóng vai trò hết sức quan trọng trong NCKH. Ba yếu tố trên có mối quan hệ qua lại và tương hỗ lẫn nhau, được thể hiện trong mô hình dưới đây. Nghiên cứu khoa học (Tạo ra tri thức - tạo ra công nghệ) Khoa học Công nghệ (Sự tĩnh tại của tri thức - kho (Được tạo ra từ tri thức KH và tri thức) NCKH) Hình 1.1: Mối quan hệ giữa khoa học, NCKH và công nghệ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ Hoạt động KH&CN là “các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật trong mọi lĩnh vực của khoa học và công nghệ, là các khoa học tự nhiên và công nghệ, các khoa học y học và nông nghiệp, cũng như các khoa học xã hội và nhân văn” [37].
Đây là định nghĩa của UNESCO, bản dịch của tác giả Vũ Cao Đàm. Định nghĩa này được đặc trưng bởi hai khía cạnh cơ bản, đó là: Thứ nhất, nó liên quan tới bản chất của các hoạt động KH&CN; chúng tập trung và gắn chặt với sản xuất công nghiệp, phân bố và sử dụng các kiến thức khoa học và kỹ thuật. Chính trong phạm vi các hoạt động KH&CN mà các kiến thức khoa học và kỹ thuật được tạo ra, truyền bá, thu thập, sửa đổi, cải biến, làm cho phù hợp với nhu cầu và được sử dụng. Thứ hai, nó liên quan tới các lĩnh vực hoạt động mà nó bao quát như: - Hoạt động NCKH (nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng) và triển khai, viết tắt tiếng Anh là R&D; - Hoạt động dịch vụ KH&CN; - Hoạt động chuyển giao công nghệ [6].
Mối quan hệ giữa hoạt động KH&CN với một số hoạt động xã hội khác được trình bày trong hình dưới đây. Hoạt động kh&cn Sản xuất kinh doanh Nghiên cứu và Dịch vụ Chuyển giao Triển khai (R&D) KH&CN công nghệ Nghiên cứu Nghiên cứu Triển cơ bản ứng dụng khai Hình 1.2: Hoạt động khoa học và công nghệ trong mối quan hệ với sản xuất 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đề tài nghiên cứu này không bàn một cách toàn diện về các hoạt động KH&CN mà chỉ giới hạn trong phạm vi các hoạt động nghiên cứu và triển khai. Công tác tổ chức, quản lý khoa học và công nghệ Hệ thống tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam được chia thành 2 loại là: quản lý theo vùng lãnh thổ (gồm các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị hành chính cấp dưới) và quản lý theo ngành (gồm các bộ, cơ quan ngang bộ và các đơn vị cấp dưới). Trong công tác quản lý nhà nước về KH&CN, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về KH&CN và giao Bộ KH&CN chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về KH&CN.
Các bộ và ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý nhà nước về KH&CN tại ngành và địa phương mình. Từ cấp trung ương xuống dưới địa phương và cơ sở đều thành lập ra các tổ chức KH&CN để triển khai các hoạt động KH&CN liên quan tới địa phương mình hoặc ngành mình quản lý [13], [21]. Công tác tổ chức, quản lý KH&CN có thể được khái lược tại bảng 1.1: Khái lược công tác quản lý và tổ chức KH&CN Cơ quan quản lý nhà Cấp quản lý Tổ chức KH&CN nước về KH&CN Cấp trung ương Bộ KH&CN Viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức dịch vụ KH&CN Cấp bộ, tỉnh Cục, sở KH&CN Viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức dịch vụ KH&CN Cấp cơ sở, huyện Phòng hoặc ban KH&CN Khoa, trung tâm nghiên cứu, tổ chức dịch vụ KH&CN 1. Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ * Khái niệm quản lý 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, thực hiện tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả nhất của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường [25].
Theo Lý thuyết Hệ thống, quản lý có thể được mô hình hoá như sau: Đầu vào Đầu ra (Các nguồn (Mục lực) Khách thể quản lý tiêu) van va n Lệnh Thông tin điều Chủ thể phản hồi khiển quản lý Môi trường Hình 1.3: Sơ đồ quản lý theo lý thuyết hệ thống Nguồn: Vũ Cao Đàm, Lý thuyết hệ thống, Trường Đại học KHXH&NV, 2007, tr.24 Theo Lê Hồng Lôi, “Quản lý là hoạt động thực tiễn có tổ chức mà con người tiến hành để thực hiện mục đích nhất định” [17]. Vậy nguyên tắc của quản lý là phải gắn liền với một tổ chức cụ thể, ở đó quy định cách ứng xử giữa chủ thể và đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu. Trong thực tiễn, đại đa số hoạt động của loài người được tiến hành dưới hình thức hoạt động tập thể có tổ chức, trong đó quản lý là một yếu tố cần thiết nhằm đảm bảo sự phối hợp thống nhất giữa các cá nhân để đạt được mục tiêu chung [38]. Quản lý có năm công cụ cơ bản đó là: lập kế hoạch, xây dựng tổ chức, xác định biên chế, lãnh đạo và kiểm tra [14].
Đề tài nghiên cứu này chỉ đề cập đến công cụ tổ chức của hoạt động quản lý. Xây dựng Xác định Lập kế hoạch Lãnh đạo tổ chức biên chế Kiểm tra 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4: Quy trình của hoạt động quản lý * Nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Nội dung quản lý nhà nước về KH&CN bao gồm [21]: - Xây dựng và chỉ đạo chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, nhiệm vụ KH&CN; - Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN; - Tổ chức bộ máy quản lý về KH&CN; - Tổ chức, hướng dẫn đăng ký hoạt động của tổ chức KH&CN, Quỹ phát triển KH&CN; - Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; - Quy định việc đánh giá, nghiệm thu, ứng dụng và công bố kết quả NCKH và phát triển công nghệ; chức vụ khoa học; giải thưởng KH&CN và các hình thức ghi nhận công lao về KH&CN của tổ chức, cá nhân; - Tổ chức quản lý công tác thẩm định KH&CN; - Tổ chức, chỉ đạo công tác thống kê, thông tin KH&CN; - Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về KH&CN; - Tổ chức, quản lý hợp tác quốc tế về KH&CN; - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về KH&CN; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong hoạt động KH&CN; xử lý các vi phạm pháp luật KH&CN. * Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN bao gồm: - Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về KH&CN. Hàng năm, Chính phủ báo cáo với quốc hội về việc thực hiện các chính sách, biện pháp 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com để phát triển KH&CN; việc sử dụng ngân sách nhà nước đầu tư phát triển KH&CN; kết quả hoạt động KH&CN.
- Bộ KH&CN chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về KH&CN. - Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về KH&CN theo sự phân công của Chính phủ.