Chương 1: Cơ sở lý luận + Chương 2: Rào cản thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động khoa học và công nghệ trong các tổ chức R&D trực thuộc Sở KH&CN Lâm Đồng hiện nay. + Chương 3: Giải pháp khắc phục rào cản việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức R&D theo nghị định 115/2005/NĐ-CP. Kết luận * Khuyến nghị 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. Hoạt động khoa học và công nghệ 1.
Khái niệm hoạt động KH&CN Hoạt động KH&CN theo UNESCO là một chuỗi các hoạt động bao gồm nghiên cứu (Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, trong đó nghiên cứu cơ bản chia thành nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng; nghiên cứu cơ bản định hướng lại chia thành nghiên cứu cơ bản nền tảng và nghiên cứu chuyên đề) & triển khai (bao gồm 3 giai đoạn: tạo vật mẫu – prototype, tạo quy trình – làm pilot để tạo công nghệ và làm thí điểm loạt nhỏ - sản xuất thử loạt 0 hay làm “Sêri 0” và đổi mới công nghệ (bao gồm chuyển giao công nghệ và phát triển công nghệ). Hoạt động KH&CN còn bao hàm một loại hình hoạt động khác nữa có chức năng phục vụ cho tất cả các loại hình hoạt động KH&CN nói trên, đó là hoạt động dịch vụ KH&CN. Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học. Trong đó, có 3 cách phân loại nghiên cứu khoa học thường dùng là: phân loại theo chức năng nghiên cứu (mô tả, giải thích, giải pháp, dự báo), phân loại theo phương pháp thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu (thư viện, điền dã, labô) và phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai.
Trong luận văn này, cách phân loại nghiên cứu khoa học nói riêng và phân loại hoạt động KH&CN nói chung theo các giai đoạn và tính chất đặc trưng sản phẩm của mỗi giai đoạn được sử dụng. Việc thống nhất cách hiểu những khái niệm này là rất quan trọng và cần thiết trong công tác quản lý KH&CN. Dưới đây xin được trình bày chi tiết về từng loại hình hoạt động KH&CN nói trên. Nghiên cứu (research – R) * Nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm tìm ra các thuộc tính, cấu trúc, động thái của các đối tượng nghiên cứu, các sự vật và hiện tượng.
Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, định 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luật, định lý,…Trên cơ sở đó, hình thành nên các phát hiện, phát minh và các hệ thống lý thuyết mới. Nghiên cứu cơ bản được chia thành hai loại: Nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng. - Nghiên cứu cơ bản thuần túy Nghiên cứu cơ bản thuần túy còn gọi là nghiên cứu cơ bản tự do hay nghiên cứu cơ bản không định hướng, là những nghiên cứu tìm hiểu về bản chất sự vật và quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, nhằm nâng cao nhận thức, tri thức mà chưa có hoặc chưa bàn đến bất kỳ một ý nghĩa ứng dụng nào. Loại hình nghiên cứu này, nhìn chung mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà nghiên cứu: họ tự suy nghĩ ra, tự đề xuất đề tài nghiên cứu, quyết định chọn lựa đối tượng nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu với tính tự chủ rất cao.
- Nghiên cứu cơ bản định hướng Nghiên cứu cơ bản định hướng hay đôi khi c n gọi là nghiên cứu thăm d , là những nghiên cứu nghiên cứu cơ bản đã dự kiến trước mục đích ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản định hướng được chia thành nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề. + Nghiên cứu nền tảng là những nghiên cứu về quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật, ví dụ như các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên, điều tra cơ bản về các điều kiện tự nhiên như địa chất, khí tượng, thủy văn, điều tra cơ bản về KT-XH. + Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu có hệ thống về một hiện tượng, sự vật.
Nghiên cứu chuyên đề có thể dẫn đến những cơ sở lý thuyết quan trọng và những ứng dụng có ý nghĩa to lớn trong đời sống, KT-XH. * Nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng các lý thuyết, quy luật thu được từ trong nghiên cứu cơ bản, tức là dựa trên cơ sở các kết quả, sản phẩm của nghiên cứu cơ bản, để đưa ra những mô tả, giải thích, dự báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp. Ở đây giải pháp được hiểu theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này, theo đó có thể là các giải pháp về công nghệ, vật liệu, sản phẩm, giải pháp về xã hội, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý, tổ chức, v.v…Nghiên cứu ứng dụng cũng có thể là nghiên cứu để áp dụng các kết quả nghiên cứu đã thành công ở một môi trường nhất định, vào trong một môi trường mới của sự vật và hiện tượng. Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là một hệ thống tri thức về nhận dạng trạng thái của sự vật, hiện tượng trong hiện tại và tương lai.
Cũng có thể là một hệ thống tri thức về giải thích nguyên nhân, nguồn gốc, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả, quy luật chung chi phối sự vật, hiện tượng. Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng cũng có thể là một giải pháp mới về công nghệ, vật liệu, sản phẩm, về xã hội, tổ chức và quản lý, v.v…Sáng chế -loại thành tựu trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, là một sản phẩm đặc biệt của nghiên cứu ứng dụng. Một điều cần lưu ý là, mặc dù mang tên gọi như vậy, nhưng kết quả của nghiên cứu ứng dụng vẫn chưa thể ứng dụng được ngay, mà để có thể đưa chúng vào sử dụng thực tế, còn phải trải qua một giai đoạn nghiên cứu nữa, gọi là triển khai. Triển khai (Development – D) Triển khai ở đây là viết tắt của một thuật ngữ đầy đủ là triển khai thực nghiệm kỹ thuật, sau này còn gọi là triển khai thực nghiệm công nghệ là hoạt động vận dụng các quy luật (sản phẩm của nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý, giải pháp (sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng) để tạo ra vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với các tham số kỹ thuật khả thi.
Triển khai bao gồm ba giai đoạn: - Tạo ra vật mẫu (làm prototype) là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm mẫu hay c n gọi là vật mẫu chức năng (functional prototype), mà chưa quan tâm đến quy trình sản xuất ra vật mẫu và quy mô áp dụng vật mẫu đó. - Tạo quy trình, công nghệ (làm pilot) là giai đoạn tìm kiếm, thử nghiệm và tạo ra công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới (prototype) vừa thành công ở giai đoạn trước, đôi khi c n gọi đây là giai đoạn tạo vật mẫu kỹ thuật (engineering prototype). 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sản xuât thử loạt đầu/sản xuất thử loạt nhỏ (sản xuất “Sê ri 0”) là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ hay làm thí điểm, trong thực tế c n được gọi là sản xuất bán đại trà hay bán công nghiệp. Về mặt lý thuyết, sau giai đoạn triển khai, kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao vào sản xuất, hình thành nên chuyển giao công nghệ theo chiều dọc.
Tuy nhiên, trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau, có thể do doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp nhận, cũng có thể do tổ chức R&D còn muốn giữ lại know-how, muốn tiếp tục hoàn thiện công nghệ, v.v…tình huống đó thúc đẩy tổ chức R&D lập ra các doanh nghiệp ngoại biên (doanh nghiệp spin-off) để tự mình đưa ra thị trường các công nghệ, sản phẩm mới và độc đáo. Đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ (technological innovation) là hoạt động thay thế một công nghệ lạc hậu hơn bằng một công nghệ tiến bộ hơn nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm. Đổi mới công nghệ được thực hiện thông qua hai loại hình hoạt động là: chuyển giao công nghệ và phát triển công nghệ. * Chuyển giao công nghệ Trong xã hội luôn luôn tồn tại các luồng di động công nghệ từ nơi có trình độ, năng lực công nghệ cao đến nơi có trình độ, năng lực công nghệ thấp hơn – luồng di động đó tạo ra quá trình chuyển giao công nghệ, xét về mặt bản chất đó chính là quá trình trao tri thức công nghệ.
Chuyển giao công nghệ (transfer of technology) là sự chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một công nghệ giữa hai đối tác. Công nghệ được chuyển giao bao gồm: các bí quyết, quy trình, công thức, quyền sở hữu và quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp. Chuyển giao công nghệ có thể đi kèm hoặc không đi kèm hợp đồng licence hoặc hợp đồng patent-licence, có thể đi kèm hoặc không đi kèm đầu tư thiết bị, tiền vốn. Chuyển giao công nghệ bao gồm: chuyển giao công nghệ theo chiều ngang và chuyển giao công nghệ theo chiều dọc.
- Chuyển giao công nghệ theo chiều ngang là sự chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp. thực chất đây là quá trình nhân rộng công nghệ về mặt số lượng, 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không có biến đổi về trình độ, năng lực công nghệ và chất lượng sản phẩm. Ưu điểm của hình thức chuyển giao theo chiều ngang là ít rủi ro, nhưng năng lực cạnh tranh thấp. - Chuyển giao công nghệ theo chiều dọc là sự chuyển giao tri thức công nghệ từ khu vực R&D vào doanh nghiệp, thực chất đây là quá trình áp dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Mặc dù xác xuất rủi ro của hình thức chuyển giao theo chiều dọc có thể cao, song đổi lại, năng lực cạnh tranh cũng lại có thể rất cao, do tạo ra được các sản phẩm mới dựa trên công nghệ mới. Đây cũng chính là nơi thể hiện rõ nhất sự giao nhau của hoạt động KH&CN với hoạt động thương mại và trong nhiều trường hợp, nó gần giống thương mại hơn. * Phát triển công nghệ Phát triển công nghệ (development of technology hay technology development) là sự mở rộng và/hoặc nâng cấp công nghệ, bao gồm hoạt động phát triển công nghệ theo chiều rộng – nhân rộng, mở rộng công nghệ và hoạt động phát triển công nghệ theo chiều sâu – nâng cấp công nghệ. Dịch vụ KH&CN Dịch vụ KH&CN là một loại hình hoạt động KH&CN, có chức năng cung ứng dịch vụ cho mọi hoạt động KT-XH theo nhu cầu và năng lực.