Tổng quan nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa và chỉnh trang đô thị tại Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo nhu cầu thu hồi đất đai trên quy mô lớn. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, sau khi bị thu hồi đất, toàn quốc có khoảng 13% số lao động nông nghiệp chuyển sang nghề mới, 25% đến 30% rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc việc làm không ổn định, và 53% số hộ dân bị sụt giảm thu nhập so với trước. Trung bình mỗi héc-ta đất nông nghiệp bị thu hồi khiến khoảng 13 lao động mất việc làm truyền thống. Thực trạng này cho thấy công tác bồi thường hiện hành phần lớn mới tập trung vào các tài sản hữu hình như đất đai, nhà cửa, hoa màu mà chưa tính toán đầy đủ các tổn thất phi vật thể hay còn gọi là thiệt hại vô hình.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận dạng các chiều cạnh tổn thất phi vật thể và ước lượng mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường (WTAC) của người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi việc giải phóng mặt bằng. Mục tiêu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa các thành tố thiệt hại vô hình, đo lường mức độ thiệt hại kinh tế - xã hội, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức chấp nhận bồi thường và xây dựng các hàm ý chính sách bổ sung cho khung bồi thường giải tỏa.
Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực nghiệm tại dự án Thảo Cầm Viên thuộc huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, với quy mô thu hồi 485,35 ha liên quan đến 702 hộ dân. Nghiên cứu tập trung khảo sát 150 hộ gia đình thuộc diện giải tỏa trắng đang tự tái định cư tại ba xã: An Nhơn Tây, An Phú và Phú Mỹ Hưng trong giai đoạn biến động đất đai 2005 - 2010. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hiện thực hóa các định hướng của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nơi từng ước tính giá trị thiệt hại vô hình chiếm khoảng 40% đến 50% giá trị bồi thường hữu hình, tạo tiền đề xây dựng chính sách bồi thường toàn diện và công bằng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế học tân cổ điển về đánh giá hàng hóa phi thị trường do các học giả kinh tế môi trường phát triển. Trong lý thuyết này, sự thay đổi mức hữu dụng và phúc lợi cá nhân khi đối mặt với sự suy giảm chất lượng dịch vụ hoặc môi trường sống được đo lường thông qua hai công cụ: Mức sẵn lòng trả (WTP) và Mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường (WTA/WTAC). Đối với bối cảnh thu hồi đất bắt buộc, WTAC là công cụ chuẩn xác nhất để lượng hóa giá trị bằng tiền mà người dân yêu cầu nhằm bù đắp cho những mất mát về sinh kế và điều kiện sống.
Khái niệm thiệt hại vô hình trong nghiên cứu được chuẩn hóa qua ba chiều kích: các tác động tiêu cực đến tâm lý, văn hóa truyền thống; sự mất mát tài sản văn hóa, gắn kết cộng đồng và dịch vụ môi trường; cùng những chi phí phát sinh để tái lập đời sống sau di dời. Khung mô hình nghiên cứu tích hợp sáu nhóm nhân tố thiệt hại vô hình chính:
- Điều kiện kinh tế, việc làm và thu nhập.
- Khả năng tiếp cận hệ thống giáo dục và đào tạo.
- Vốn tự nhiên và tài sản nhân tạo.
- Khả năng tiếp cận hạ tầng cơ sở và dịch vụ xã hội.
- Chất lượng môi trường sống và an ninh trật tự.
- Mạng lưới quan hệ xã hội và tập quán văn hóa địa phương.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp phản ánh tình hình quản lý, sử dụng và biến động 32.541,42 ha đất nông nghiệp tại huyện Củ Chi giai đoạn 2005 - 2010 theo Quyết định số 3045/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra trực tiếp 150 chủ hộ tái định cư tại ba xã trọng điểm bằng bảng hỏi cấu trúc được thiết kế chuẩn hóa.
Quy mô mẫu gồm 150 hộ dân được chọn theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất thuận tiện. Lý do lựa chọn phương pháp này là vì các hộ diện giải tỏa trắng phân tán rải rác sau khi nhận bồi thường, trong đó một số hộ đã chuyển đi khỏi địa phương nên việc lập khung mẫu xác suất hoàn chỉnh gặp hạn chế lớn về nguồn lực và thời gian tiếp cận.
Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) kết hợp kỹ thuật kịch bản thị trường giả định chi tiết. Lý do lựa chọn CVM là vì các thiệt hại vô hình về mặt xã hội, tâm lý và văn hóa hoàn toàn không có thị trường giao dịch thực tế để quan sát giá cả, do đó việc tạo lập kịch bản định giá trực tiếp là giải pháp khả thi nhất. Dữ liệu sau thu thập được xử lý bằng thống kê mô tả, kiểm định phi tham số, kiểm định so sánh cặp (Paired Sample Test) và mô hình hồi quy kinh tế lượng đa biến (OLS) nhằm phân tích tác động biên của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế và xã hội đến mức WTAC. Toàn bộ quy trình khảo sát thử nghiệm và điều tra chính thức được hoàn thành trong năm 2011.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát 150 hộ dân tại huyện Củ Chi mang lại những phát hiện thực nghiệm mang tính cốt lõi về biến động kinh tế và xã hội:
Thứ nhất, mức độ xáo trộn việc làm diễn ra nghiêm trọng. Có 64,4% số hộ khảo sát phải thay đổi nghề nghiệp sau khi bị thu hồi đất. Trong đó, 57,2% hộ thay đổi việc làm do không còn đất sản xuất nông nghiệp và 33,6% do nơi làm việc cũ quá xa nơi ở mới. Tỷ lệ lao động nông nghiệp sụt giảm mạnh từ 42,7% trước thu hồi xuống còn 21,3% sau thu hồi. Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp hoặc không có việc làm tăng từ mức rất thấp lên 16,7%, trong khi nhóm lao động phổ thông và tự do tăng lên mức 38,0%.
Thứ hai, cơ cấu thu nhập bị suy giảm rõ rệt và chuyển dịch xuống các phân khúc thấp hơn. Nhóm hộ có mức thu nhập trung bình từ 2 đến 4 triệu đồng/tháng tăng vọt từ 47,3% trước thu hồi lên 70,7% sau thu hồi. Trong khi đó, nhóm hộ có thu nhập khá từ 5 đến 7 triệu đồng/tháng giảm mạnh từ 45,3% xuống chỉ còn 11,3%. Ngoài ra, có 9,3% số hộ rơi vào mức thu nhập dưới 2 triệu đồng/tháng sau giải tỏa.
Thứ ba, cộng đồng có mức độ gắn kết lịch sử sâu sắc nhưng tinh thần đồng thuận xã hội vẫn rất cao. Có tới 67,9% số hộ đã sinh sống tại địa phương trên 31 năm, trong đó 27,3% hộ định cư từ 51 đến 60 năm. Các lý do gắn kết lớn nhất gồm: có gia đình người thân sống cùng (24,2%), điều kiện sống tốt (22,7%) và quan hệ xóm giềng khăng khít (18,2%). Dù 32,2% hộ lo ngại nhất về mất nhà ở và 24,2% lo ngại mất đất sản xuất, vẫn có 84,0% hộ dân bày tỏ thái độ ủng hộ chủ trương thu hồi đất vì tin tưởng vào lợi ích cho thế hệ tương lai (29,4%) và sự phát triển chung của cộng đồng (25,4%).
Thứ tư, mô hình hồi quy kinh tế lượng xác nhận mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường (WTAC) chịu tác động có ý nghĩa thống kê bởi các biến số: độ tuổi chủ hộ (trung bình 44,84 tuổi), số năm sinh sống tại địa phương, quy mô hộ gia đình (nhóm 4 đến 6 người chiếm 68,7%) và trình độ học vấn của người trả lời (50,0% đạt trình độ trung học phổ thông).
Thảo luận kết quả
Sự biến động tiêu cực về sinh kế bắt nguồn trực tiếp từ việc chuyển đổi công năng 779,03 ha đất nông nghiệp tại địa phương mà không có sự chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng nghề nghiệp thay thế. Trong số những người mất việc làm, 44,4% cho biết nguyên nhân do nơi ở mới khó tìm việc và 40,7% do không được đào tạo nghề chuyển đổi phù hợp. Nhóm nông dân trên 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao trong mẫu khảo sát (36,0% thuộc nhóm 41 - 50 tuổi) gặp rào cản lớn khi xin tuyển dụng vào các khu công nghiệp như Tây Bắc Củ Chi hay Tân Phú Trung.
Kết quả này hoàn toàn tương đồng với lý thuyết 8 nguy cơ tái định cư của Cernea và cảnh báo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về tình trạng bần cùng hóa do mất tư liệu sản xuất và tan vỡ mạng lưới an sinh làng xã. Nghiên cứu cũng củng cố phát hiện của các công trình đi trước tại Việt Nam về sự sụt giảm tiện ích xã hội sau tái định cư.
Các dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm có thể được mô hình hóa và trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột chồng so sánh cơ cấu nghề nghiệp trước - sau thu hồi, biểu đồ phân bổ tần số thu nhập hộ gia đình và bảng ma trận hệ số hồi quy đa biến OLS thể hiện tác động biên của từng yếu tố kinh tế - xã hội đối với giá trị WTAC.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm giải quyết triệt để các tổn thất phi vật thể và ổn định sinh kế cho người dân, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất:
- Thể chế hóa chính sách bồi thường thiệt hại vô hình: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng huyện Củ Chi cần bổ sung gói hỗ trợ thiệt hại vô hình bằng tiền mặt hoặc hỗ trợ sinh kế tương đương 40% đến 50% tổng giá trị bồi thường đất đai hữu hình. Thời gian thực hiện thí điểm trong vòng 12 tháng tại các dự án hạ tầng tiếp theo.
- Nâng cấp chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp: Trung tâm Dạy nghề huyện Củ Chi phối hợp với các doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Tân Phú Trung và Cụm công nghiệp Tây Bắc Củ Chi tổ chức các khóa đào tạo nghề miễn phí cho 100% lao động nông nghiệp mất đất dưới 45 tuổi. Mục tiêu đạt tối thiểu 75% lao động có việc làm chính thức trong vòng 18 tháng sau thu hồi đất.
- Hoàn thiện mạng lưới an sinh và thiết chế văn hóa tại khu tái định cư: Ủy ban nhân dân các xã An Nhơn Tây, An Phú, Phú Mỹ Hưng đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông liên ấp, bảo đảm bán kính tiếp cận trường học và trạm y tế dưới 2 km, đồng thời hỗ trợ duy trì 100% các câu lạc bộ văn hóa cộng đồng và sinh hoạt tín ngưỡng dân gian địa phương trong vòng 6 tháng sau khi bàn giao mặt bằng.
- Hỗ trợ vốn vay chuyển đổi sinh kế ưu đãi: Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh huyện Củ Chi triển khai gói tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp, giải ngân trong vòng 24 tháng cho ít nhất 80% hộ gia đình có nhu cầu chuyển đổi sang mô hình kinh doanh tiểu thương, dịch vụ hoặc tiểu thủ công nghiệp.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho bốn nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố có thể sử dụng khung định giá CVM và công thức lượng hóa WTAC để sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư tiệm cận với thông lệ quốc tế.
- Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng và chủ đầu tư dự án: Các ban quản lý dự án hạ tầng, khu công nghiệp có thể áp dụng bộ công cụ nhận diện 6 chiều cạnh thiệt hại vô hình để lập phương án đền bù thỏa đáng, hạn chế khiếu nại và rút ngắn tiến độ bàn giao mặt bằng.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu học thuật: Các chuyên gia kinh tế môi trường, kinh tế phát triển và xã hội học đô thị có thể khai thác mô hình hồi quy thực nghiệm trên 150 hộ dân làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá hàng hóa phi thị trường.
- Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Người học các ngành Kinh tế học, Quản lý Đất đai, Quản lý Công có thể tham khảo quy trình nghiên cứu chuẩn mực từ thiết kế bảng hỏi CVM, phỏng vấn thử nghiệm đến kỹ thuật xử lý dữ liệu kinh tế lượng OLS.
Câu hỏi thường gặp
Thiệt hại vô hình khi thu hồi đất được định nghĩa cụ thể như thế nào trong nghiên cứu?
Thiệt hại vô hình là toàn bộ các mất mát phi vật thể mà người dân phải gánh chịu nhưng chưa được bồi thường bằng giá thị trường, bao gồm tổn thương tâm lý, suy giảm quan hệ cộng đồng, rạn nứt tập quán văn hóa, mất an ninh sinh kế và chi phí thích nghi tại nơi ở mới.
Tại sao phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) lại phù hợp để định giá thiệt hại vô hình?
Phương pháp CVM thiết lập một kịch bản thị trường giả định với đầy đủ 6 khía cạnh thiệt hại để phỏng vấn trực tiếp 150 hộ dân, giúp người bị ảnh hưởng tự lượng hóa mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường (WTAC) đối với những giá trị không có thị trường giao dịch thực tế.
Những yếu tố nào tác động mạnh nhất đến mức chấp nhận bồi thường WTAC của người dân?
Mô hình hồi quy khẳng định mức WTAC chịu ảnh hưởng quyết định bởi độ tuổi chủ hộ (trung bình 44,84 tuổi), số năm gắn bó với địa phương (67,9% sống trên 31 năm), quy mô hộ gia đình (68,7% có từ 4 đến 6 người) và mức độ chuyển đổi việc làm sau thu hồi.
Tại sao có tới 84,0% hộ dân ủng hộ việc thu hồi đất dù đời sống gặp nhiều khó khăn?
Khảo sát cho thấy nhận thức xã hội của người dân rất tích cực; 29,4% số hộ ủng hộ vì kỳ vọng thế hệ tương lai sẽ hưởng lợi từ các công trình phát triển và 25,4% ủng hộ vì lợi ích hiện đại hóa hạ tầng chung của toàn huyện Củ Chi.
Mức bồi thường thiệt hại vô hình được đề xuất chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng chi phí đền bù?
Dựa trên kết quả khảo sát thực nghiệm và định hướng quản lý ngành, nghiên cứu đề xuất mức đền bù các chi phí vô hình và hỗ trợ tái lập cuộc sống nên tương đương khoảng 40% đến 50% giá trị bồi thường hữu hình của đất đai và tài sản trên đất.
Kết luận
- Luận văn đã nhận dạng và lượng hóa toàn diện 6 nhóm thiệt hại vô hình của 150 hộ dân bị giải tỏa trắng tại dự án Thảo Cầm Viên huyện Củ Chi.
- Nghiên cứu chỉ ra sự sụt giảm sinh kế rõ rệt với 64,4% hộ thay đổi việc làm, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 42,7% xuống 21,3% và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 16,7%.
- Đóng góp khoa học cốt lõi là ứng dụng thành công phương pháp CVM để xác định mức WTAC trong thị trường phi thị trường tại Việt Nam.
- Lộ trình tiếp theo cần tập trung hoàn thiện chính sách thí điểm bồi thường giá trị vô hình trong giai đoạn 2026 - 2030 gắn liền với các gói an sinh xã hội bền vững.
- Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu cần tích cực ứng dụng khung phân tích này vào thực tiễn quy hoạch để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội.