CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Phần tổng quan này tác giả tập trung vào hai hướng chính gồm tổng hợp rà soát và đánh giá các nghiên cứu về chính sách phát triển thị trường bất động sản (TTBĐS) nói chung và các nghiên cứu về phát triển nhà ở cho người lao động tại các Khu công nghiệp (KCN). Thứ nhất, Các nghiên cứu về chính sách phát triển thị trường bất động sản nói chung Hầu hết các tác giả đều tập trung theo 2 mảng nghiên cứu chính sau: (1) Chính sách phát triển thị trường bất động sản (TTBĐS); (2) Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của TTBĐS. (1) Chính sách phát triển TTBĐS Hernando de Soto (2006) trong cuốn sách “Sự bí ẩn của vốn” [41], cho rằng vai trò thể chế thực chất là tạo lập khuôn khổ pháp lý phù hợp với thực tiễn để tất cả các tài sản BĐS đều được đăng ký chính thức, được huy động hữu hiệu vào hoạt động sản xuất kinh doanh, và đưa vào vận hành trong nền kinh tế.
Trình độ phát triển của thể chế TTBĐS là thước đo đại diện cho trình độ phát triển của thể chế kinh tế thị trường tại các quốc gia. Nếu có thể chế và chính sách thích hợp, nguồn tài nguyên đất đai sẽ là nguồn lực sản xuất, kinh doanh đóng góp lớn nhất cho sự thịnh vượng của mỗi quốc gia. Ưu tiên chính sách hàng đầu của mọi nước là biến nguồn tài nguyên (đất đai là một thành tố) thành nguồn lực và từ đó trở thành tài sản và vốn của nền kinh tế. Ở góc độ của các nền kinh tế chuyển đổi, Peter Nolan (2004), Trung Quốc trước ngã ba đường [43] nhận định để có thể chuyển đổi và phát triển thành công cần xác lập các thể chế kinh tế mà các chủ thể kinh tế, không phân biệt thành phần kinh tế đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tiếp cận nguồn lực (mà đất đai, BĐS là một yếu tố cực kì quan trọng).
Điều này có nghĩa là, cần phải có khung chính sách để xây dựng những thể chế này (Philip Day, 2005 trong “Đất” [73]), Stephen 11 Bell, 2002 trong “Quản trị kinh tế và thể chế” [76]) và mối quan hệ giữa việc phát triển thể chế đối với quản lý đất đai và thể chế thị trường đất đai rất gắn kết (Klaus Deininger và Gersban Feder, 1998 trong “Thể chế đất đai và thị trường đất đai” [66]). Cụ thể là các chính sách phát triển TTBĐS gồm: chính sách thuế đất (Nicolaus Tideman và Florenz Plassmann, 2006 trong “Các nguồn doanh thu công làm cho các quốc gia trở nên giàu có hơn” [69]) chính sách đầu tư; chính sách đất đai và sở hữu đất đai (Chengri Ding, 2003 trong “Cải cách chính sách đất đai ở Trung Quốc: đánh giá và triển vọng” [59]); Chính sách xây dựng và nhà ở (Bertrand Renaud, 1995 trong “Nền kinh tế bất động sản và kế hoạch cải cách nhà ở của Nga” [57]); Chính sách tiền tệ (Shigeru Otsubo và Masahiko Tsutsumi, 1996, trong “Vấn đề Nhật Bản có thật không?” [77]); Chính sách tài chính bao gồm chính sách thuế, chính sách giá và định giá và các chính sách về nguồn tài chính phục vụ TTBĐS (Joseph K. Gloudemans và Richard R. Almy, 1990 trong “Quản lý thẩm định và định giá tài sản” [74]).
Đặc biệt là nghiên cứu của Gershon Fedor (1998), Các thể chế và thị trường đất đai [78] đã tổng hợp thể chế về luật đất đai và thị trường đất đai của các nước kinh tế phát triển (chủ yếu ở Châu Âu). Tác giả đã nêu bật những vai trò của Nhà nước trong việc thực thi các điều kiện, can thiệp vào thị trường đất đai cho các đối tác nước ngoài. Huy động các nguồn lực tài chính từ thị trường đất đai để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chủ yếu hiện nay có 3 căn cứ chính để phân loại chính sách phát triển của TTBĐS cụ thể như sau: - Dựa vào chức năng quản lý, có năm nhóm: chính sách về đầu tư – doanh nghiệp, chính sách về đất đai, chính sách về xây dựng, chính sách tiền tệ và chính sách tài chính.
- Dựa vào theo tín hiệu thị trường, có ba nhóm: chính sách liên quan đến cung hàng hoá BĐS tạo lập hàng hoá BĐS, đăng kí, sở hữu và xác lập quyền, hạn điền, xây dựng nhà, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới,.); chính sách liên quan đến cầu hàng hoá BĐS (chính sách tài chính, tiền tệ, thế chấp, thế chấp 12 thứ cấp, chính sách mua trả dần, mua trả góp, thuê mua, chứng khoán hoá BĐS.); chính sách giao dịch BĐS (giá, thuế, phí, các đối tượng trung gian (môi giới, tư vấn.), các hoạt động hỗ trợ giao dịch như các trung tâm giao dịch BĐS, mạng các sàn giao dịch BĐS. - Dựa vào các bộ phận cấu thành của chính sách phát triển TTBĐS, có ba nhóm đó là: về thể chế (Hernando de Soto, 2006); về các nội hàm của TTBĐS; về cấp độ phát triển của TTBĐS. Mặt khác cũng có nhiều nghiên cứu tập trung vào phân tích rõ tầm quan trọng của Chính phủ trong vấn đề quản lý TTBĐS. Đó là những yêu cầu về pháp luật, tài chính, đạo đức về phòng các rủi ro về mặt pháp lý.
Nguyên nhân thuộc môi trường pháp lý có thể ảnh hưởng đến TTBĐS, song việc hoàn thiện môi trường pháp lý lại rất khó khăn. David Palmer & John MC Langhlin (1994), Quản lý đất đai lồng ghép: các cách thức về mặt thể chế và kỹ thuật [79] nêu ra các phương pháp lồng ghép về quản lý đất đai theo kiểu truyền thống với quản lý đất đai theo phương pháp hiện đại. Những ưu điểm của mô hình này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và quy hoạch. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia cần có những điều chỉnh cho phù hợp.
Liu Tinghuan (2004), Tài chính bất động sản của Trung Quốc và những vấn đề liên quan đến chính sách [80] cho rằng ở mỗi quốc gia cần có các chính sách cụ thể để huy động nguồn lực tài chính từ đất đai vào ngân sách nhà nước để đảm bảo lợi ích của Nhà nước. Tiêu biểu là các tác giả Hernando de Sotto (2006) trong nghiên cứu về “Sự bí ẩn của vốn”, DiPasquale D. Wheaton (1996), Kinh tế học đô thị và thị trường bất động sản [81] Hernando de Sotto (2006), Sự bí ẩn của vốn đề cập đến vai trò của các cấp chính quyền trong việc quản lý đầu tư bất động sản thể hiện ở các điểm sau: Một là, cung cấp chiến lược, qui hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cũng như các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; qui hoạch đô thị tổng thể. Đây là những việc làm có tính định hướng và điều chỉnh đầu tư bất động sản lớn nhất.
Yêu cầu quan trọng nhất của chiến lược, qui hoạch là tính khái quát, đồng bộ, liên tục, minh bạch và tính chế tài. Hai là, hình thành các thể chế, chính sách để đầu tư bất động sản được hiện 13 thực hóa. Các chính sách phải đồng bộ thống nhất đủ đơn giản và chế tài. Những chính sách của các cơ quan liên quan chí ít cũng không làm phức tạp thêm những vấn đề vốn đã rất phức tạp.
Hơn nữa, việc phối hợp các cơ chế, chính sách phải hướng đến việc xác lập các giá trị pháp lý cho bất động sản được đầu tư để có thể vốn hóa bất động sản và sinh động hóa vốn bất động sản. Tránh vốn đầu tư vào bất động sản do trở thành vốn cố định nên không dễ dàng rút ra được và có xu hướng trở thành vốn chết. Ba là, tố chức triển khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch bằng các thể chế, cơ chế, chính sách trên bình diện vĩ mô. Đây là chức năng Nhà nước nói chung.
Trên thực tiễn, việc đầu tư bất động sản là những hoạt động phức hợp, diễn ra trong khoảng thời gian dài mới có thể kiểm chứng được việctuân thủ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nên cần có những cơ quan có tính tổng hợp để phối hợp các hoạt động đầu tư bất động sản. Bốn là, kiểm tra và giám sát. Việc tổ chức thực hiện chỉ có thể phát huy tốt nếu được kiểm tra, giám sát. Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, việc kiểm tra, giám sát là cần thiết và đối với đầu tư BĐS thì việc kiểm tra, giám sát trên bình diện tổng thể lại càng cần thiết hơn do tính cố định và giá trị lớn của hoạt động này.
Vai trò quản lý của chính quyển địa phương đối với đầu tư bất động sản được thể hiện qua một số mối quan hệ và lợi ích. Wheaton (1996), Kinh tế học đô thị và thị trường bất động sản [81] kết luận: - Vấn đề thuế tài sản và thị trường bất động sản. Tại hầu hết các nước, chính quyền địa phương là cơ quan chủ yếu trực tiếp điều tiết việc phát triển đất đai. Chính quyển địa phương kiếm soát mô hình phát triển thông qua việc khoanh vùng theo mục đích sử dụng đất, công năng của các tòa nhà thông qua các quy định về phân chia tiểu khu vực và vị trí của các dự án phát triển thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng, đường sá và điện nước.
Chính quyền địa phương cũng là nhà cung cấp chủ yếu các dịch vụ công cho người dân và thuê bất động sản là nguồn thu chính của chính quyển địa phương để chi trả cho các dịch vụ này. - Vấn đề thuê tài sản ở vùng đô thị. Trong những vùng đô thị có sự khác biệt lớn trong mô hình thu nhập và chi tiêu giữa các thành phố trung tâm và vô vàn cộng 14 đồng ngoại ô nhỏ hơn nằm xung quanh. Những khác biệt này đặc biệt quan trọng bởi chúng có thể ảnh hưởng đến việc sắp đặt vị trí các nguồn lực giữa các đô thị của một vùng đô thị.
Đó là sự di chuyển của các công ty và các hộ gia đình giữa các cộng đồng có thể gây sức ép cạnh tranh mạnh mẽ lên các chính quyền địa phương. Trong thực tế, thị trường nhà ở xuất hiện ở các đô thị không đồng nhất. Nếu các hộ gia đình có thu nhập thấp hơn có thể trả giá cao hơn cho đất chưa sử dụng ở những cộng đồng có thu nhập cao hơn, thì những cộng đồng này sẽ không còn là cộng đồng có thu nhập cao trong thời gian rất lâu. - Việc khoanh vùng và những tác động tài chính đến sự phát triển dân cư.