Chương 1: LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất 1. Khái niệm pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bất cứ ngành luật nào cũng giữ vai trò quan trọng để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong từng lĩnh vực cụ thể. Pháp luật còn là là phương tiện để người dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trên thực tế; là nhân tố bảo đảm thực hiện nền dân chủ XHCN, phát huy quyền lực của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội.
Các quyền dân chủ của nhân dân trên các lĩnh vực, trong đó có pháp luật đất đai là một lĩnh vực đang chiếm trên 60% tỉ lệ đơn thư khiếu nại, tố cáo [41]. Hiện nay, hệ thống pháp luật về đất đai ở nước ta đã được xây dựng tương đối đồng bộ, cơ bản phù hợp tình hình phát triển đất nước và đáp ứng được ở mức độ nhất định yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII tại Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011-2015) và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2016-2020) đã khẳng định: “Hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng tốt hơn quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Theo đó, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng được xác định cụ thể hơn, từng bước thực thi có hiệu quả và tạo được sự đồng thuận trong xã hội.
Khái niệm nguyên tắc sử dụng đất Nguyên tắc sử dụng đất là một khái niệm được quy định, được ghi nhận trong pháp luật về đất đai. Đất đai đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của con người, nó là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Đất đai là yếu tố cấu thành tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, nó là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc các công trình công nghiệp, giao thông và các công trình thuỷ lợi. Mặt khác, việc sử dụng đất đai còn ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề an sinh xã hội, quốc phòng an ninh của 10 quốc gia.
Chính vì tầm quan trọng đó cho nên khi tổ chức, cá nhân tiến hành sử dụng đất đai thì phải tuân thủ theo một số nguyên tắc do pháp luật đặt ra. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và Luật đất đai năm 2013, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là đại diện chủ sở hữu, đã thống nhất quản lý đất đai đã vai trò, trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển một cách bền vững nguồn tài nguyên đất. Nhà nước giao cho các cơ quan có chức năng về quản lý đất đai ra quyết định, kế hoạch, định hướng sử dụng đất đai thực hiện theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đã được phân bổ khoanh vùng và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định sau đó trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt, Bộ trưởng bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trình Chính phủ xem xét quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia. Mặt khác, Nhà nước xác lập quyền cho người sử dụng đất nhằm khắc phục tình trạng đất chưa sử dụng, để hoang hóa, đồng thời chuyển giao quyền sử dụng cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và có các phương thức để bảo hộ quyền sử dụng hợp pháp của các chủ sử dụng đất, để từ đó, người sử dụng đất có thể sử dụng đất một cách tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả theo đúng định hướng, đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.
Pháp luật về đất đai nói chung, về nguyên tắc sử dụng đất nói riêng xác định những tư tưởng chính trị pháp lý để định hướng việc sử dụng đất đạt hiệu quả, nói cách khác, Hiến pháp, Luật Đất đai quy định hệ thống các nguyên tắc của Luật Đất đai bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sử dụng đất trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai. Những quy phạm này đã hình thành hệ thống các nguyên tắc liên quan hoạt động quản lý, sử dụng đất, đảm bảo chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Hệ thống các nguyên tắc này bao gồm những nguyên tắc liên quan trực tiếp đến việc sử dụng đất mà người quản lý cũng như người sử dụng phải thực hiện. 11 Do vậy, có thể nói rằng: Nguyên tắc sử dụng đất chính là tư tưởng chính trị, pháp lý định hướng chi phối hoạt động sử dụng đất được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật về đất đai trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nhằm mục đích sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sử dụng đất.
Khái niệm pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất Pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất là một bộ phận cấu thành pháp luật về đất đai - một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đây là một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm từ luật học, kinh tế học, địa chính, quản lý đất đai… Trong đó, pháp luật về đất đai nói chung, pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất nói riêng là công cụ giúp Nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ bằng quy phạm pháp luật về đất đai, các mối quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng đất đai của các chủ thể sử dụng đất mà người đại diện sở hữu về đất đai là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất là một bộ phận của pháp luật đất đai và pháp luật về dân sự. Trong mối quan hệ pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất điều chỉnh các mối quan hệ giữa nhà nước với người sử dụng đất, giữa những người sử dụng đất với nhau và cả mối quan hệ sản xuất khi con người tác động vào thiên nhiên (cụ thể là đất đai) để tạo ra của cải vật chất. Nhà nước tham gia với vai trò là chủ sở hữu về đất đai, thống nhất quản lý sử dụng đất đai thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai nói chung, những nguyên tắc và quy định cụ thể trong việc sử dụng đất đai nói riêng, nhằm đảm chức năng quản lý nhà nước về đất đai, đồng thời bảo đảm sử dụng đất đai có hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
Theo nghĩa rộng, pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng và bảo vệ đất đai. Theo nghĩa hẹp, pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất là hệ thống các văn bản thể hiện dưới hình thức các văn bản pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành quy định các hoạt động quản lý và sử dụng đất đai. Cơ cấu của pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất Bất kì một hệ thống pháp luật nào cũng có một cơ cấu pháp luật chặt chẽ, thể hiện rõ ràng tính độc lập tương đối về cả mặt nội dung, hình thức và phương thức thực hiện nó. Cũng như những ngành luật khác, cơ cấu của pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất ở nước ta cũng được cấu thành từ nhiều bộ phận khác nhau, quy phạm pháp luật, các bộ phận của quy phạm pháp luật, giả định của quy phạm pháp luật, quy định của quy phạm pháp luật và cuối cùng là chế tài của quy phạm pháp luật.
Do vậy, ngoài việc thể hiện tính độc lập, hoàn chỉnh về cả nội dung và hình thức thì các phương thức thực hiện, chế tài xử lý những vi phạm pháp luật đó cũng vô cùng chặt chẽ, thể hiện sức mạnh của đội ngũ quản lý nhà nước nói chung, pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất nói riêng. Đặc điểm của pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất Pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất có những đặc điểm chung giống như những văn bản quy phạm pháp luật về đất đai khác là điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta. Ngoài những đặc điểm chung thì pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất đai có những đặc điểm riêng biệt khác như: Một là, pháp luật về nguyên tắc sử dụng đất là những tư tưởng chính trị pháp lý định hướng việc sử dụng đất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiện nay, việc sử dụng đất đai được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, có thể thực hiện trực tiếp, gián tiếp, việc thực hiện này có thể không theo một quy định bắt buộc nào, mà mang tính tự phát, có thể sử dụng tùy tiện mà không cần đánh giá xem loại đất đang sử dụng sẽ phù hợp với loại hình sản xuất nào, sử dụng vào mục đích gì sẽ phù hợp.
việc làm này không chỉ làm giảm hiệu quả khai thác công dụng của đất mà có thể gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác, thậm chí có thể hủy hoại tài nguyên đất, gây ảnh hưởng đến môi trường, do đó, để tránh tình trạng sử dụng đất một cách tùy tiện mà phải theo định hướng chung thống nhất thì việc sử dụng đất phải được thực hiện theo những nguyên tắc luật định. 13 Thực hiện tốt những nguyên tắc sử dụng đất mà pháp luật quy định, sẽ hướng việc sử dụng đất đảm bảo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, cũng như giúp chủ sử dụng đất có thể sử dụng nguồn tài nguyên này một cách tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả việc khai thác công dụng của nguồn tài nguyên đặc biệt này.