Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC TÒA ÁN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án 1. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án Theo từ điển Tiếng Việt [44], bình đẳng hiểu theo một nghĩa đơn giản nhất là “sự ngang hàng về địa vị và quyền lợi”. Theo khía cạnh pháp luật, bình đẳng là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, gắn bó mật thiết với con người trong đời sống xã hội.
Nhân loại đã trải qua đấu tranh, hy sinh để bảo vệ quyền bình đẳng, do đó, bảo đảm quyền bình đẳng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nước văn minh. Bảo đảm quyền bình đẳng là làm cho có sự ngang nhau về quyền và nghĩa vụ giữa những người được pháp luật quy định cho họ có những quyền và nghĩa vụ ngang nhau. Trong số các quyền bình đẳng thì quyền bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trước Tòa án là những quyền quan trọng được ghi nhận trong các công ước quốc tế như một quy phạm phổ cập mang tính khái quát cao. Tuyên ngôn chung về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948 đã chính thức ghi nhận: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ sự phân biệt nào (Điều 7); Mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng, được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án không thiên vị trong quyền quyết định quyền và nghĩa vụ của họ cũng như bất cứ sự buộc tội nào với họ (Điều 10).
Ở nước ta, ngay từ khi mới ra đời, nhà nước đã luôn tạo mọi điều kiện 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để thực hiện các quyền bình đẳng của công dân trong đó có quyền bình đẳng trước tòa án. Lời nói đầu của bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945 đã lấy nguyên tắc “Đảm bảo quyền tự do dân chủ” là cơ sở lý luận, là tư tưởng chỉ đạo trong mọi hoạt động lập pháp của Việt Nam. Từ năm 1946 đến nay quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được ghi nhận trong tất cả các Hiến pháp của Việt Nam như một nguyên tắc định hiến. Điều 52 Hiến pháp 1992 quy định “Mọi công dân bình đẳng trước pháp luật” [24].
Điều này có nghĩa là mọi công dân không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa… trước pháp luật đều bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và tuân thủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Đây là nguyên tắc cực kỳ quan trọng, nguyên tắc này được bảo đảm thì xã hội mới có công bằng, pháp luật mới được thi hành nghiêm chỉnh. Dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự, sự bình đẳng của công dân trước pháp luật được hiểu là “Bất cứ người nào phạm tội, dù họ là ai cũng phải bị xử lý theo luật hình sự, pháp luật không có quy định riêng cho từng công dân cụ thể, tài sản và địa vị xã hội không mang lại đặc quyền trước tòa án và pháp luật; Mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau khi tham gia tố tụng hình sự; Mọi người đều phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình trước tòa án trên cơ sở những điều khoản do BLTTHS quy định”. Quy định về bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án thực chất là sự cụ thể hóa nội dung của nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật.
Tòa án là cơ quan duy nhất trong tổ chức bộ máy nhà nước có chức năng giải quyết các tranh chấp trong xã hội và xử lý các vi phạm pháp luật thông qua hoạt động xét xử bằng việc làm ra bản án hoặc quyết định. Bằng hoạt động xét xử của mình, tòa án góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất và pháp chế xã hội chủ nghĩa được tôn trọng. Muốn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được như vậy, hoạt động của tòa án đòi hỏi phải khách quan, toàn diện, công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Để mục tiêu này trở thành hiện thực trong thực tế thì tòa án cần phải bảo đảm quyền bình đẳng của những người tham gia tố tụng trước tòa.
Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức về bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án, song có thể hiểu một cách khái quát nhất, bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án là việc tòa án là cơ quan có trách nhiệm bảo đảm cho viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa. - Bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án - một nguyên tắc cơ bản trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Dưới góc độ cơ sở lý luận của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa nói chung, hệ nguyên tắc của pháp luật XHCN “là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, có tính chất xuất phát điểm, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt và có ý nghĩa bao quát, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật” [37, tr. Trong khoa học luật tố tụng hình sự, nguyên tắc được hiểu là “những phương châm, những định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật ghi nhận” [39 tr. Những nguyên tắc của luật tố tụng hình sự không chỉ là là kim chỉ nam định hướng cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật trong thực tiễn mà còn định hướng cho hoạt động tố tụng hình sự.
Bình đẳng trước Tòa án được xác định là một nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong tố tụng hình sự vì: Với nhiệm vụ được đặt ra là nhằm giải quyết các vụ án hình sự một 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách nhanh chóng, khách quan, công minh, đúng pháp luật trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của những người tham gia tố tụng, BLTTHS đã xác định cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án mà còn là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân, cho nên họ có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Muốn cho vụ án được giải quyết một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thì bên buộc tội, bên gỡ tội và những người khác có quyền và lợi ích hợp pháp cần được giải quyết trong vụ án đều phải được bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ và được bình đẳng trong việc đưa ra những yêu cầu trước tòa án. Mặt khác, họ cũng cần phải tranh luận khi có ý kiến khác nhau về chứng cứ và các vấn đề cần được giải quyết trong vụ án. Thực tế khách quan đã chứng minh không thể có được phán quyết chính xác, khách quan nếu không đảm bảo được quyền bình đẳng của những người tham gia tố tụng trước tòa án.
Nếu bên buộc tội có nhiều quyền hơn, được thiên vị hơn tất yếu dẫn đến việc oan sai, kết án oan người vô tội, ngược lại, quá thiên vị bên bị buộc tội sẽ dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, hình phạt sẽ không tương xứng với hành vi phạm tội. Cả hai khuynh hướng trên đều không phù hợp với phương châm giải quyết vụ án hình sự vừa phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, có hiệu quả đồng thời phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. BLTTHS đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án như sau: Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án [26, Điều 19].
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quy định này thể hiện: + Chủ thể được bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án gồm: kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự + Nội dung của quyền bình đẳng được thể hiện thông qua các hoạt động: đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật; đưa ra yêu cầu và quyền tranh luận tại phiên tòa. + Quyền bình đẳng phải được bảo đảm “tại Tòa án”. Tuy nhiên, thuật ngữ “tại Tòa án” được sử dụng trong nguyên tắc này không có nghĩa là quyền bình đẳng của các chủ thể chỉ được bảo đảm khi vụ án được đưa ra xét xử tại một phiên tòa công khai. Quyền bình đẳng còn phải được bảo đảm cả trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Điều này được chứng minh qua các quy định của BLTTHS cho phép bị cáo, người bào chữa có quyền được biết về các nội dung của bản cáo trạng, các lý lẽ, chứng cứ sẽ được Viện kiểm sát cũng như các chủ thể buộc tội khác đưa ra để có thể đưa ra các phản bác tại phiên tòa. Đồng thời, họ cũng được Tòa án tạo điều kiện được biết về các kết luận giám định khi có yêu cầu, được áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ để làm cơ sở cho các tranh luận tại phiên tòa. Sự chuẩn bị này tất yếu là để bảo đảm quyền bình đẳng của các chủ thể này trước phiên tòa.