đặt vấn đề nghiên cứu, tiếp cận là chưa cần thiết. Có quan điểm cho rằng: kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó tin học và công nghệ thông tin phát triển sâu rộng. Quan điểm khác thì lý giải rằng: đó là nền kinh tế mà công nghệ sinh học giữ vai trò chủ đạo. Hay có một quan điểm khác giải thích: kinh tế tri thức là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở một nền văn hoá tiên tiến và ở đó người dân hưởng thụ với trình độ cao.
Trên đây chỉ là những cách hiểu khác nhau về nền kinh tế tri thức, nó chưa chỉ ra được những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức. Những ý kiến phản biện như của tác giả Lê Huy Thục cho rằng: trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay việc một quốc gia sử dụng công nghệ sinh học, tin học hoá hay cả hai một cách sâu rộng trong sản xuất nông nghiệp nhưng chỉ có thế thì chưa thể coi là đã có được kinh tế tri thức. Còn có những nền kinh tế có tài nguyên phong phú, được thiên nhiên 1 ưu đãi, chỉ cần bán nguyên liệu thô cũng trở nên giàu có, khắp nơi người dân đều có điều kiện sử dụng những hàm lượng tri thức, chất xám trong các sản phẩm thô rất thấp nên nền kinh tế như vậy không được coi là kinh tế tri thức (hoặc là tiếp cận được với kinh tế tri thức). Các quan điểm trên chưa chính xác bởi đã đồng nhất nền kinh tế sử dụng công nghệ cao với nền kinh tế tri thức; tri thức về khoa học công nghệ đã tách ra khỏi tri thức rộng lớn của con người cũng như tách rời khoa học, công nghệ ra khỏi môi trường kinh tế, văn hoá và xã hội nói chung.
Có một định nghĩa khác khái quát hơn của tác giả Nguyễn Ngọc Thành: “kinh tế tri thức là hình thái phát triển cao nhất hiện nay của nền kinh tế hàng hoá tư bản, trong đó, công thức hoạt động cơ bản:Tiền-hàng-tiền được thay thế bằng công thức Tiền - tri thức - tiền” [22]. Định nghĩa này có điều mới là chỉ ra được vai trò quan trọng của tri thức trong nền kinh tế mới song ở đây nó mới chỉ đề cập đến tri thức trong môi trường kinh doanh với tri thức là một dạng hàng hoá cao cấp, dùng tiền mua đem về sử dụng để kiếm được lợi nhuận lớn hơn số tiền ban đầu bỏ ra. Định nghĩa này chưa bao quát được vấn đề bởi tri thức không chỉ tác động đến môi trường kinh tế mà trong nền kinh tế tri thức, tri thức còn nằm trong sự tương tác với môi trường văn hoá, xã hội, giáo dục… Năm 1996, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra một định nghĩa đơn giản nhưng bao quát về kinh tế tri thức trong báo cáo có tên: “Kinh tế dựa trên tri thức”. Theo đó, “kinh tế tri thức là một nền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức” hoặc “kinh tế tri thức là kinh tế trong đó tri thức đóng vai trò then chốt đối vối sự phát triển loài người”.
Định nghĩa này có tính khái quát cao, khắc phục hạn chế của nhiều định nghĩa kể trên; nó vừa cho thấy vị trí, vai trò của tri thức trong nền kinh tế tri thức vừa chỉ ra được mối quan hệ giữa tri thức và quá trình phát triển kinh tế xã hội của loài người. Đồng thời định nghĩa này đã cho thấy vai trò, tầm quan trọng của 1 nguồn nhân lực cụ thể là nguồn nhân lực chất lượng cao đối với phát triển kinh tế tri thức. Trước đây khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển nền kinh tế tự nhiên còn thống trị thì sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nguồn tài nguyên thiên nhiên được ưu đãi và lực lượng lao động thủ công. Quốc gia nào không sở hữu được nhân tố đó thì không thể có điều kiện để phát triển kinh tế.
Ngày nay, thời kỳ bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ, có những nước nghèo hoặc thậm chí rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên, lực lượng lao động không đông song lại đạt được tốc độ phát triển kinh tế rất cao trong nhiều thập kỷ, trở thành những quốc gia có nền kinh tế phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore… Nhân tố quyết định cho sự thành công đó chính là nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong khi các quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên khai thác ngày càng cạn kiệt nguồn lực tự nhiên của mình thì nguồn nhân lực chất lượng cao lại càng có điều kiện phát triển mạnh. Với ưu thế rõ rệt của mình trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, nguồn nhân lực được rất nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu. Nguồn nhân lực là một khái niệm phức tạp, trong quá trình vận động và phát triển nó chịu sự tác động của những qui luật sinh tử tự nhiên và những qui luật xã hội.
Bởi vậy, khái niệm nguồn nhân lực được tiếp nhận dưới nhiều góc độ. Thứ nhất, theo thuyết lao động xã hội, gần gũi với đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị thì nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho nền sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lực con người cho sự phát triển. Như vậy, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư của quốc gia. Hoặc nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, bao gồm tất cả các cá nhân trong độ tuổi lao động tham gia vào quá trình lao động được sử dụng trong quá trình lao động.
1 Thứ hai, theo cách tiếp cận của môn kinh tế học phát triển thì nguồn nhân lực là nguồn lực tạo động lực cho sự phát triển. Nền kinh tế tăng trưởng phát triển hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc cung ứng nguồn nhân lực theo yêu cầu của nền kinh tế. Thứ ba, theo thuyết về vốn con người thì nhân tố con người trong nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất, đứng trước các nguồn lực vật chất khác. Bởi vậy, việc đầu tư cho nguồn nhân lực theo thuyết này là rất quan trọng.
Nhà kinh tế học người Mỹ đạt giải Nobel năm 1992, Gang Baken cho rằng: không có một khoản đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực. Theo một nghiên cứu được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố thì khi đầu tư vào các ngành sản xuất vật chất tỷ lệ thu hồứi vốn chỉ đạt 13% tổng vốn đầu tư trong khi đầu tư cho giáo dục tiểu học, tỷ lệ thu hồi vốn đạt 24%, giáo dục trung học là 17%, giáo dục cao đẳng đại học là 14%. Tổng vốn đầu tư cho kinh nghiệm phát triển của những quốc gia có tốc độ phát triển thần kỳ thời gian qua cho thấy: chìa khoá cho sự thành công vượt bậc đó không phải là nguồn lực tự nhiên, nguồn lực tài chính hay các nguồn lực vật chất khác mà chính là nguồn nhân lực có chất lượng cao. Do vậy, việc đầu tư để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đang ngày càng được thế giới quan tâm.
Bên cạnh nguồn nhân lực, cũng cần phải đầu tư vào các nguồn vốn vật chất tương ứng. Thứ tư, theo quan niệm của Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) thì nguồn nhân lực là tổng thể những năng lực bao gồm năng lực thể chất và năng lực trí tuệ của con người được huy động vào quá trình sản xuất. Nguồn năng lực đó của con người gộp thành nguồn nội lực quan trọng hàng đầu của mọi quốc gia. Những quốc gia có dân số đông sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia mình.
1 Thứ năm, ở Việt Nam theo quan điểm được sử dụng rộng rãi thì nguồn nhân lực là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí tuệ và sức khoẻ, năng lực phẩm chất, tác phong làm việc. Như vậy, có nhiều quan điểm cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực trong đó những quan điểm gần gũi với Việt Nam đều nhấn mạnh tới năng lực lao động, năng lực làm việc hay là năng lực thể chất, tinh thần và trí tuệ tồn tại trong mỗi con người của lực lượng lao động xã hội. Chất lượng của nguồn nhân lực vì thế sẽ phụ thuộc vào năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động. Phát triển nguồn nhân lực, bên cạnh quan tâm phát triển số lượng chính là việc phát triển khả năng của năng lực thể chất, năng lực tinh thần, năng lực trí tuệ của toàn bộ lực lượng lao động xã hội.
Yêu cầu của kinh tế tri thức đối với phát triển nguồn nhân lực 1. Phát triển nguồn nhân lực phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đây là một trong những yêu cầu quan trọng cần phải chú ý khi phát triển nguồn nhân lực bởi vì ngay từ khi thực hiện tiến trình CNH-HĐH rút ngắn cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng của ngành nông nghiệp. Theo đó, tỉ lệ lao động làm việc trong những ngành này cũng phải có sự thay đổi tương ứng. Tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm trong sự so sánh tương đối với công nghiệp và dịch vụ thì số lượng lao động có thể giảm nhưng do sự tiến bộ của khoa học công nghệ lượng giá trị của nông nghiệp tạo ra có thể còn lớn hơn, sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao hơn, sức cạnh tranh tốt hơn.
Muốn được như vậy, đương nhiên lao động ngành nông nghiệp phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn, nhiều trí tuệ hơn. Tương tự, lao động nhóm ngành công nghiệp, dịch vụ cũng phải tăng lên về số lượng và chất lượng mới có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 1 Đây chính là một trong những yêu cầu quan trọng đối với việc phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức bởi nếu quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực không tương thích về số lượng và chất lượng so với yêu cầu về nhân lực của nền kinh tế sẽ dẫn tới những hậu quả lâu dài cho đất nước.