Luận văn: Người không được quyền hưởng di sản theo BLDS 2015 - Vũ Hà Anh

Luận văn phân tích chuyên sâu các quy định về người không được quyền hưởng di sản theo BLDS 2015, vướng mắc thực tiễn và giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

101
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh về người không được hưởng di sản thừa kế 2024

Pháp luật về thừa kế là một chế định quan trọng trong Bộ luật Dân sự (BLDS), có vai trò dịch chuyển tài sản của người đã mất cho những người còn sống. Chế định này không chỉ đảm bảo quyền định đoạt tài sản của cá nhân mà còn góp phần ổn định các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh việc quy định các trường hợp được hưởng di sản, pháp luật cũng đặt ra những chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật. Một trong những chế tài đó là quy định về người không được hưởng di sản thừa kế. Đây là biện pháp nhằm tước bỏ quyền lợi của những người thừa kế có hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến người để lại di sản hoặc những người thừa kế khác. Quy định này thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời mang tính giáo dục sâu sắc, đề cao các giá trị đạo đức truyền thống trong gia đình và xã hội. Việc hiểu rõ các trường hợp này giúp các cá nhân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời là căn cứ quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế một cách công bằng và đúng pháp luật.

1.1. Khái niệm và vai trò của người thừa kế trong BLDS

Theo Điều 613 BLDS 2015, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc là tổ chức thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Người thừa kế có vai trò trung tâm trong quan hệ thừa kế, là chủ thể được nhận phần di sản mà người đã khuất để lại. Họ có thể được xác định theo hai hình thức: thừa kế theo di chúc (do ý chí của người lập di chúc) hoặc thừa kế theo pháp luật (dựa trên các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng). Pháp luật bảo vệ quyền được hưởng di sản của họ, nhưng đồng thời cũng yêu cầu họ phải có những hành vi phù hợp với đạo đức và quy định pháp luật.

1.2. Mục đích của quy định truất quyền hưởng di sản

Quy định về truất quyền hưởng di sản nhằm nhiều mục đích quan trọng. Trước hết, nó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người để lại di sản, ngăn chặn những người có hành vi bất xứng được hưởng lợi từ tài sản của người mà họ đã xâm phạm. Thứ hai, quy định này nhằm đảm bảo trật tự xã hội, giữ gìn đạo đức và thuần phong mỹ tục, đặc biệt là mối quan hệ hiếu thảo, yêu thương trong gia đình. Như tác giả Vũ Hà Anh nhận định trong luận văn của mình, quy định này “thể hiện sự lên án, cái nhìn nghiêm khắc của nhà nước và xã hội đối với người thừa kế không có quyền được hưởng di sản”. Cuối cùng, đây là cơ sở pháp lý vững chắc để Tòa án và các cơ quan chức năng giải quyết tranh chấp, đảm bảo sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật.

II. Điều 621 BLDS 2015 4 nhóm người không được hưởng di sản

Cơ sở pháp lý cốt lõi xác định người không được hưởng di sản thừa kế được quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự 2015. Điều luật này liệt kê một cách rõ ràng và cụ thể các hành vi khiến một người bị tước quyền hưởng di sản, dù họ thuộc diện thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật. Các quy định này là sự kế thừa và hoàn thiện từ các văn bản pháp luật trước đó như BLDS 2005, nhằm bao quát các tình huống phức tạp có thể xảy ra trong thực tiễn. Việc phân loại các hành vi này giúp cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác. Đây là những hành vi không chỉ vi phạm pháp luật hình sự mà còn đi ngược lại với các chuẩn mực đạo đức xã hội, đặc biệt là nghĩa vụ và tình cảm giữa các thành viên trong gia đình. Việc nắm vững các quy định tại điều luật này là vô cùng cần thiết để nhận diện và xử lý các trường hợp phát sinh trên thực tế.

2.1. Hành vi xâm phạm tính mạng sức khỏe nhân phẩm người khác

Đây là nhóm hành vi nghiêm trọng nhất. Cụ thể, người sẽ bị truất quyền hưởng di sản nếu:

  1. Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
  2. Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng. Điều kiện tiên quyết ở đây là phải có một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Lỗi của người thực hiện hành vi phải là lỗi cố ý. Nếu hành vi chỉ là vô ý gây thương tích hoặc làm chết người thì người đó vẫn không bị tước quyền hưởng di sản. Quy định này cho thấy sự nghiêm khắc của pháp luật đối với những hành vi tàn nhẫn, vô đạo đức nhằm vào chính người thân của mình để trục lợi.

2.2. Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản

Pháp luật quy định con cái có nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ; giữa anh, chị, em; ông, bà và cháu cũng có các nghĩa vụ tương trợ lẫn nhau. Một người có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản sẽ bị tước quyền thừa kế. Mặc dù pháp luật không định nghĩa thế nào là “vi phạm nghiêm trọng”, nhưng thực tiễn xét xử thường xem xét các yếu tố như: người để lại di sản không thể tự chăm sóc bản thân, người có nghĩa vụ nuôi dưỡng có đủ điều kiện nhưng đã từ chối hoặc bỏ mặc, dẫn đến hậu quả xấu về sức khỏe, tinh thần cho người để lại di sản. Đây là một chế tài quan trọng nhằm củng cố trách nhiệm gia đình, đề cao đạo hiếu và sự đùm bọc giữa các thành viên.

2.3. Hành vi gian dối ép buộc liên quan đến di chúc

Nhóm hành vi này xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do ý chí của người để lại di sản trong việc định đoạt tài sản. Cụ thể, các hành vi bao gồm: lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc; che giấu di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. So với BLDS 2005, BLDS 2015 đã bổ sung hành vi “che giấu di chúc” để bao quát đầy đủ hơn các thủ đoạn gian dối. Mục đích của các hành vi này phải là để hưởng di sản trái ý muốn của người đã mất. Bất kỳ hành vi nào trong số này đều khiến người thực hiện mất quyền hưởng di sản thừa kế.

III. Giải pháp nào cho người không được hưởng di sản thừa kế

Mặc dù Điều 621 BLDS 2015 quy định chặt chẽ các trường hợp bị truất quyền hưởng di sản, pháp luật vẫn dành một ngoại lệ quan trọng, thể hiện sự tôn trọng tuyệt đối quyền tự định đoạt của người có tài sản. Đây là một điểm rất nhân văn, cho phép người để lại di sản có quyền tha thứ và trao cơ hội cho những người đã có lỗi lầm. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ được áp dụng trong những điều kiện rất cụ thể và không phải lúc nào cũng có thể thực hiện. Việc hiểu rõ cơ chế này giúp các bên liên quan có cái nhìn toàn diện hơn về quyền và nghĩa vụ của mình. Bên cạnh đó, việc phân biệt giữa thừa kế theo di chúcthừa kế theo pháp luật trong trường hợp này là cực kỳ quan trọng để tránh những nhầm lẫn khi áp dụng pháp luật, đảm bảo di sản được phân chia đúng theo cả ý chí của người đã khuất và quy định của nhà nước.

3.1. Trường hợp ngoại lệ Khi người để lại di sản vẫn cho hưởng

Khoản 2 Điều 621 BLDS 2015 quy định: “Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”. Đây là ngoại lệ duy nhất. Để được áp dụng, cần hai điều kiện đồng thời: thứ nhất, người để lại di sản phải biết rõ về hành vi vi phạm của người thừa kế; thứ hai, người để lại di sản phải thể hiện rõ ý chí cho người đó hưởng di sản trong một bản di chúc hợp pháp. Sự tha thứ này phải được thể hiện bằng văn bản (di chúc). Nếu không có di chúc, dù người để lại di sản có thể đã tha thứ bằng lời nói, người có hành vi vi phạm vẫn sẽ bị tước quyền thừa kế nếu chia theo pháp luật.

3.2. Sự khác biệt giữa thừa kế theo di chúc và theo pháp luật

Sự phân biệt này là mấu chốt. Nếu di sản được chia theo pháp luật (do không có di chúc, di chúc không hợp pháp, hoặc các trường hợp khác), bất kỳ ai có hành vi vi phạm tại Khoản 1 Điều 621 sẽ mặc nhiên không được hưởng di sản. Không có ngoại lệ nào được áp dụng. Ngược lại, nếu di sản được chia theo di chúc, người có hành vi vi phạm vẫn có thể được hưởng nếu người lập di chúc biết và vẫn quyết định cho họ hưởng. Quy định này đề cao quyền tự định đoạt của chủ sở hữu tài sản, cho phép họ quyết định cuối cùng về tài sản của mình, ngay cả khi quyết định đó có thể khác với các chuẩn mực thông thường.

IV. Hậu quả pháp lý của việc không được hưởng di sản thừa kế

Việc một người bị xác định là người không được hưởng di sản thừa kế sẽ gây ra những hậu quả pháp lý trực tiếp và quan trọng. Hậu quả rõ ràng nhất là người đó sẽ bị tước bỏ hoàn toàn tư cách người thừa kế đối với di sản của người đã mất. Điều này có nghĩa là họ sẽ không nhận được bất kỳ tài sản nào từ khối di sản thừa kế, dù họ có tên trong di chúc (trừ trường hợp ngoại lệ) hay thuộc hàng thừa kế theo pháp luật. Phần di sản mà đáng lẽ họ được nhận sẽ được xử lý theo các quy định của pháp luật, thường là được chia cho những người thừa kế hợp pháp khác. Hậu quả này không chỉ dừng lại ở việc mất quyền thừa kế mà còn ảnh hưởng đến các quyền lợi liên quan khác như quyền được di tặng hay quyền quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng. Việc hiểu rõ các hệ quả này giúp dự liệu được cách phân chia tài sản và đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan.

4.1. Mất tư cách người thừa kế và người được di tặng

Khi một người thuộc trường hợp không được hưởng di sản, họ sẽ mất tư cách là người thừa kế. Tư cách này bị mất đối với cả hai hình thức thừa kế theo di chúcthừa kế theo pháp luật. Tương tự, nếu người đó được chỉ định nhận một tài sản di tặng trong di chúc, họ cũng sẽ không được hưởng phần tài sản này. Luận văn của tác giả Vũ Hà Anh khẳng định: “Nếu người được di tặng lại có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản… thì người đó hoàn toàn không xứng đáng được hưởng di sản”. Điều này đảm bảo tính nhất quán của pháp luật, rằng người có hành vi bất xứng không thể nhận được bất kỳ lợi ích nào từ di sản của người mà họ đã xâm phạm.

4.2. Phần di sản được xử lý như thế nào

Khi một người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản, phần di sản mà người đó lẽ ra được hưởng sẽ được giải quyết như sau: Nếu có những người thừa kế khác cùng hàng, phần di sản đó sẽ được chia đều cho họ. Nếu người đó là người thừa kế duy nhất trong hàng của mình, di sản sẽ được chuyển cho những người ở hàng thừa kế tiếp theo. Ví dụ, nếu một người con (thuộc hàng thừa kế thứ nhất) bị truất quyền, phần của người đó sẽ được chia cho các anh chị em còn lại. Nếu không còn ai ở hàng thứ nhất, di sản sẽ thuộc về những người ở hàng thứ hai (ông bà, anh chị em ruột của người mất). Trong trường hợp không có người thừa kế nào theo cả di chúc và pháp luật, di sản sẽ thuộc về Nhà nước.

4.3. Ảnh hưởng đến quy định thừa kế thế vị

Thừa kế thế vị là trường hợp con thay thế cha hoặc mẹ để hưởng di sản của ông bà, nếu cha hoặc mẹ mất trước hoặc cùng thời điểm với ông bà. Tuy nhiên, nếu cha hoặc mẹ còn sống tại thời điểm ông bà mất nhưng lại thuộc trường hợp người không được hưởng di sản thừa kế theo Điều 621, thì con của họ (cháu của người để lại di sản) cũng sẽ không được hưởng thừa kế thế vị. Pháp luật coi như người bị truất quyền vẫn còn sống tại thời điểm mở thừa kế, do đó không phát sinh điều kiện để thừa kế thế vị. Đây là một hậu quả pháp lý quan trọng cần lưu ý để xác định đúng quyền lợi của các cháu trong gia đình.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ luật học người không được quyền hưởng di sản theo blds năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về thừa kế và người không được hưởng di sản thừa kế Chương 2: Người không được quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 Chương 3: Vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về người không được hưởng quyền di sản 6 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƢỜI THỪA KẾ VÀ NGƢỜI KHÔNG ĐƢỢC HƢỞNG DI SẢN THỪA KẾ 1.Lý luận chung về ngƣời thừa kế 1.Khái niệm người thừa kế Người thừa kế là một khái niệm đã xuất hiện từ khi xuất hiện chế định pháp luật thừa kế. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, pháp luật thừa kế Việt Nam chưa có quy định thế nào là người thừa kế. Về người thừa kế, qua các chế độ xã hội khác nhau nhưng cùng theo quan điểm chung là những người đó được hưởng di sản do người chết để lại theo di chúc hoặc theo pháp luật. Theo đó, người thừa kế theo di chúc là người được hưởng di sản của người chết để lại theo di chúc do người lập di chúc chỉ định, định đoạt trước khi họ chết.

Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức tùy theo sự định đoạt của người để lại di chúc. Người thừa kế có thể là người có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người chết hoặc không có các mối quan hệ này. Mặt khác, phạm vi những người thừa kế theo pháp luật còn phụ thuộc vào quan điểm lập pháp của từng thời kỳ lịch sử của một quốc gia nhất định. Cụ thể: Ở Việt Nam trước năm 1945, dưới chế độ thực dân phong kiến với ý thức hệ bảo vệ chế độ tư hữu tài sản nhằm duy trì sự bóc lột, giai cấp thống trị thường đề cao quyền sở hữu và xem nó là quyền thiêng liêng, luôn được quan tâm nhằm duy trì gia đình nội tộc.

Do đó, quan hệ huyết thống luôn được đề cao và quan trọng nhất trong việc xác định những người có quyền thừa kế. Dưới chế độ dân chủ, nhân dân ta kể từ năm 1945 đến nay, người thừa kế theo pháp luật đã được mở rộng (nếu xét theo quan hệ huyết thống). Pháp luật thừa 7 kế nước ta, đã dần xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến trong việc xác định người thừa kế. Quan hệ bình đẳng giữa vợ chồng, giữa các con trong gia đình đã được pháp luật quy định, loại bỏ tư tưởng gia trưởng, tư tưởng trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền thừa kế của vợ góa và con gái đã kết hôn với người khác nhưng vẫn thuộc diện thừa kế của người chồng đã chết.

Hiện nay, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và là người thừa kế theo hàng thừa kế, khi đó trình tự thừa kế sẽ do pháp luật quy định. Đó là những người có một trong ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại disản. Theo Đại Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý làm chủ biên, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội năm 1998 thì chỉ có chế định thừa kế là "được hưởng tài sản của cải do người chết để lại cho" [16, tr 35] và Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2003 quy định thừa kế là "hưởng của người chết để lại cho" [47, tr 41] chứ không có định nghĩa thế nào là người thừa kế. Khái niệm người thừa kế đã được giải thích trong Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb Công an nhân dân, 1999 của Trường Đại học Luật Hà Nội có giải thích về người thừa kế là "Người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật" [40, tr 15].

Hiện nay, trong BLDS năm 2005 có quy định về người thừa kế như sau: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (Điều 635 BLDS 2005). Kế thừa quy định này, tại Điều 613 BLDS 2015BLDS 2015 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa 8 kế”.

BLDS 2015 quy định về cơ bản giống như BLDS 2005, song chỉ đề cập đến trường hợp không phải là cá nhân mà không liệt kê các trường hợp như cơ quan, tổ chức như BLDS 2005. Tuy nhiên, quy định của cả hai BLDS trên đều không phải là một khái niệm mà đó là quy định về điều kiện của người thừa kế. Người thừa kế được hưởng di sản hợp pháp mà người để lại di sản thừa kế khi đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định. Việc định đoạt di sản hợp pháp của mình đối với người để lại di sản thừa kế hợp pháp của mình có thể được thông qua di chúc và/hoặc theo pháp luật.

Cụ thể: * Ngƣời thừa kế theo di chúc Người thừa kế theo di chúc là người được xác định do ý chí của người có di sản nên phạm vi những người được hưởng di sản theo di chúc rộng hơn rất nhiều so với người được hưởng di sản theo pháp luật. Người thừa kế theo di chúc có thể là bất kỳ cá nhân nào, nếu được chỉ định trong di chúc mà không cần xét đến những quan hệ khác của họ đối với người để lại di sản. Người thừa kế theo di chúc có thể là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản hoặc không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản, pháp luật không quy định phạm vi những người được hưởng thừa kế theo di chúc mà việc được hưởng di sản của người chết theo di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của họ để lại cho những người thừa kế. Phần di sản mà mỗi một người thừa kế được hưởng theo di chúc được hưởng có thể bằng nhau, nhiều hơn hoặc ít hơn nhau, điều này tùy thuộc vào việc phân định di sản của người lập di chúc định đoạt.

Tuy nhiên, theo quy định hiện hành thì có những trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc – tức là dù người để lại di sản có chia tài sản trong di chúc cho những người này hay không thì họ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được 9 người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, đó là con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con thành niên mà không có khả năng lao động (trừ trường hợp người này từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản) (Điều 644 BLDS 2015). * Ngƣời thừa kế theo quy định của phápluật Nếu người thừa kế theo di chúc là cá nhân bất kỳ ai, là người thuộc diện hay không không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản kể cả cơ quan, tổ chức được hưởng di sản do ý chí của người để lại di sản quyết định thì người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với người để lại di sản. Những người thuộc diện thừa kế theo luật được quyền hưởng di sản một cách bình đẳng, ngang nhau giữa những người thừa kế cùng hàng. Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015BLDS năm 2005 quy định người thừa kế theo luật được quy định theo thứ tự sau: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Nguyên tắc khi chia tài sản theo luật đó là: Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản (Khoản 2 Điều 651 BLDS 2015). 10 Từ những lý luận về người thừa kế như đã trình bày, theo quan điểm tác giả, người thừa kế có thể được định nghĩa như sau: Người thừa kế là chủ thể được quyền hưởng di sản hợp pháp của người chết để lại theo di chúc và/hoặc theo pháp luật.2 Đặc điểm pháp lý của người thừa kế Thứ nhất, như phân tích ở phần khái niệm, người thừa kế có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Theo đó, người thừa kế theo pháp luật chỉ có cá nhân, không có tổ chức – tức là theo quy định của pháp luật dân sự về hàng thừa kế thì có ba hàng thừa kế đều là cá nhân, là những người có quan hệ huyết thống, thân thích hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản; chính bởi ba yếu tố trên nên vấn đề thừa kế theo pháp luật là tổ chức không thể đặt ra. Khác với người thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc sẽ do chính người có di sản để lại quyết định chủ thể được hưởng di sản của mình nên thực tế và theo quy định của pháp luật thì chủ thể hưởng di sản của người đó ngoài cá nhân, còn có thể là tổ chức.

Điểm lưu ý là điều kiện để hưởng di sản thừa kế dù cá nhân hay tổ chức được hưởng di sản thì phải còn sống, phải còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế [46, tr 22, 23]. Thứ hai, người thừa kế là đối tượng được hưởng di sản có thể được hưởng theo di chúc và/hoặc được hưởng theo pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ