mở đầu với công trình Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự của R.Barthes năm 1968 và 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tiếp theo là Nghiên cứu cấu trúc thần thoại của Claude Levi-Strauss và mô hình hành vi ngôn ngữ của Roman Jakobson. Đặc điểm của lí thuyết tự sự chủ nghĩa cấu trúc là lấy ngôn ngữhọc làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là sự mở rộng của ẩn dụ.Todorov xem nhân vật như danh từ, tình tiết là động từ, trong chủ nghĩa hiện thực thì tình tiết thuộc thức chủ động, còn trong thần thoại lại thuộc thức bị động A.Greimas vận dụng sự đối lập trục liên kết và trục lựa chọn để nghiên cứu cấu trúc tự sự.Genette tuyên bố mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu - chủ yếu là vị ngữ động từ và ông sử dụng tràn lan các thuật ngữ ngôn ngữ học.Barthes cũng tán thành quan điểm đó.Còn mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự nhằm tìm một cách đọc tự sự mà không cần đối chiếu giản đơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan. Mặc dù không phủ nhận được mối quan hệ văn học với đời sống, nhưng các nhà nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ bản chất biểu đạt và giao tiếp của tự sự.
Song, sự lạm dụng mô hình ngôn ngữ học đã làm cho tự sự học gặp khó khăn, và chính Todorov cũng vấp phải thất bại, bởi ông chỉ quan tâm ngữ pháp tự sự hơn là văn bản tự sự. Giai đoạn thứ ba của tự sự học là gắn liền với kí hiệu học. Kí hiệu học quan tâm đến các phương thức biểu đạt khác nhau nhưng lấy văn bản làm cơ sở. Do đó, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa xem hình thức tự sự như là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm.
Đặc điểm lý thuyết của tự sự học cấu trúc chủ nghĩa là: Đi sâu nghiên cứu và coi trọng việc phân tích hình thức nhưng không tán thành việc sao phỏng giản đơn các mô hình ngôn ngữ học mà đi theo kí hiệu học và siêu kí hiệu học. Pierre Macherey, nhà mácxít Pháp cho rằng bất cứ sự đồng nhất nào giữa phê bình văn học với ngôn ngữ học đều sẽ thất bại, bởi nó bỏ qua vai trò tác động của hình thái ý thức, còn Iu.Lotman cho rằng thông tin ngôn ngữ là thông tin phi văn bản, mà điểm xuất phát của 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn bản lại chính là chỗ bất cập của ngôn ngữ khiến nó trở thành văn bản. Nếu văn bản trở về với ý nghĩa của ngôn ngữ học thì có nghĩa là sự sụp đổ của văn hóa.Như thế lí thuyết tự sự phải gắn với chức năng nhận thức và giao tiếp. Theo sự tổng kết của nhà lý luận tự sự người Mĩ Gerald Prince đã chia tự sự làm ba nhóm tương đương ba loại hình.
Nhóm thứ nhất gồm những nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như V. Propp, Greimas, Todorov, Barthes. chú ý tới cấu trúc của câu chuyện được kể, đi tìm mẫu cổ của tự sự, chức năng của biến cố và qui luật tổ hợp, lôgic phát triển và loại hình cốt truyện.Khi cực đoan nhất họ cho rằng tác phẩm tự sự không bị chi phối bởi chất liệu. Một câu chuyện có thể kể bằng văn học, điện ảnh, ba lê, hội họa đều được, do đó bỏ qua hoặc không đi sâu vào đặc trưng biểu đạt của chất liệu.
Nhóm thứ hai lấy G.Genette làm tiêu biểu đã xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt, cho nên vai trò của người trần thuật được coi là quan trọng nhất. Họ chú ý lớp ngôn từ của người trần thuật với các yếu tố cơ bản như điểm nhìn, giọng điệu. Đây là nhóm đông nhất thu hút nhiều nhà nghiên cứu như Dolezel, Micke Bal. Nhóm thứ ba đại diện là Gerald Prince và Seymour Chatman, họ coi trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể, hay dung hợp.Culler cũng thuộc phái này, ông coi trọng cả cấu trúc sự kiện lẫn cấu trúc lời văn.
Như vậy, có thể thấy lí thuyết tự sự học đã trải qua một quá trình hình thành, phát triển từ rất sớm, qua nhiều giai đoạn khác nhau. Với nội dung là nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan, tự sự học đã dần khẳng định được vai trò quan trọng của mình là một ngành khoa học nghiên cứu về văn học. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tự sự học từ khi được giới thiệu vào Việt Nam đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi, quan tâm của các nhà nghiên cứu.Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu đầu tiên tập hợp các bài viết về tự sự học ở Việt Nam là Tự sự học – những vấn đề lí luận và lịch sử (2 phần) của tác giả Trần Đình Sử chủ biên. Một công trình khác nữa của Giáo sư Trần Đình Sử: Tự sự học – một bộ môn nghiên cứu liên ngành giữa tiềm năng và bài viết.
Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển, bài viết của Giáo sư Đặng Anh Đào.Bàn về một vài thuật ngữ trong kể chuyện, bài viết của Phương Lựu.Bút ký về tự sự học, bài viết của tác giả Lê Thời Tân.Tự sự học: tên gọi, lược sử và một số vấn đề lý thuyết, bài viết của Nguyễn Thái Hòa. Điểm nhìn trong lời nói gián tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện, bài viết cuả Phan Thu Hiền.Về lý thuyết tự sự của Northrop Frye, bài viết của Nguyễn Đức Dân. Những công trình nghiên cứu, những bài viết trên đã góp phần giới thiệu lý thuyết tự sự học ở nhiều phương diện.Qua đó giúp chúng ta nhận diện được tình hình nghiên cứu tự sự học trên thế giới so với Việt Nam, giúp chúng ta tiếp cận tự sự học trong những hướng phát triển mới nhất và có triển vọng nhất. Đối tượng của tự sự học ngày nay không chỉ còn là ngữ pháp tự sự nói chung mà còn là thi pháp tự sự, phong cách học tự sự của các tác phẩm cụ thể, ngôn ngữ tự sự của các thể loại tự sự, các loại hình tự sự, mô hình tự sự của các giai đoạn phát triển văn học, sự tiếp nhận tự sự và cách tác động đến người đọc của tự sự.
Tìm hiểu rõ nội hàm, nguồn gốc và diễn biến của các khái niệm tự sự học, vận dụng linh hoạt và sáng tạo vào phân tích các tài liệu cụ thể, chúng ta sẽ hiểu thêm về bản chất, phương thức, lịch sử và các bí ẩn của nghệ thuật tự sự, một phương tiện hùng mạnh để biểu đạt và lí giải thế giới, góp phần hữu ích vào việc phê bình và giảng dạy văn học. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Người kể chuyện Khi nhắc đến nghệ thuật tự sự người ta thường nhắc đến nhiều khái niệm trong đó có khái niệm người kể chuyện.Người kể chuyện là một trong những khái niệm trung tâm của tự sự học. Khái niệm người kể chuyện xuất hiện từ năm 1940 nhưng phải đến thế kỉ XX lý luận về nó mới thực sự phát triển và được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Mặc dù vậy nhưng đến nay khái niệm về người kể chuyện vẫn chưa được các nhà nghiên cứu thống nhất.Có người gọi là người kể chuyện nhưng có người lại gọi là người trần thuật. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì người kể chuyện là “Hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó có thể là hình tượng của chính tác giả (ví dụ: nhân vật “tôi” trong Đôi mắt của Nam Cao), dĩ nhiên không nên đồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra (ví dụ: nhân vật người điên trong Nhật kí người điên của Lỗ Tấn), có thể là một người biết một câu chuyện nào đó, một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện. Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lý, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú và nhiều phối cảnh” [28,tr.
Cùng quan niệm trên, giáo sư Lê Ngọc Trà viết: “Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò là chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học” [70, tr. Trong giáo trình Lý luận văn học: “Người kể chuyện (Người trần thuật) là yếu tố thuộc thế giới miêu tả. Đó là một người do nhà văn tạo ra để thay thế mình thực hiện hành vi trần thuật. Người kể chuyện trong văn bản ẩn 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mình trong dòng chữ.Người kể chuyện ấy có thể được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai.Và chỉ có thể kể được khi nào họ cảm thấy như người trong cuộc, người chứng kiến hay người biết trước sự việc xảy ra bằng tất cả giác quan, sự hiểu biết của mình.
Do đó, về căn bản, mọi người kể chuyện đều theo ngôi thứ nhất. Cái được gọi là kể theo ngôi thứ ba thực chất là hình thức kể khi người kể chưa được ý thức hoặc đã được ý thức nhưng cố ý giấu mình” [49, tr. Tác giả Đào Duy Hiệp trong Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại định nghĩa người kể chuyện/ người trần thuật: “Là một trong những phạm trù cơ bản của trần thuật học, nó đối lập dứt khoát với “tác giả thực”. Đó là một hình tượng được tác giả thực hư cấu nên, nó có thể ở ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba (*cá nhân*/*phi cá nhân*).
Nó có nhiệm vụ mang lời kể trần thuật (narration) và chỉ im lặng khi nhân vật lên tiếng.Đương nhiên khi đã có người kể chuyện thì phải có người nghe câu chuyện (narrataire) hoặc tạo thành cặp người trần thuật/độc giả trừu tượng (ẩn tàng – implicite hoặc hiển thị - explicite).Các cấp độ trần thuật (niveaux narratifs) còn liên quan đến mối quan hệ giữa người kể chuyện và nhân vật. Cụ thể, nó đề cập đến vấn đề tìm hiểu xem người kể chuyện là hay không là nhân vật của câu chuyện mà anh ta kể lại”[30, tr.