MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo một số nghiên cứu, mối liên hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản có thể có từ rất sớm vào thời kỳ đồ đá mới. Dấu ấn về sự thông thƣơng và giao lƣu giữa ngƣời dân hai nƣớc thể hiện rất rõ nét ở Hội An khi ngƣời Nhật đặt chân đến đây vào thế kỷ XVI. Đã có rất nhiều ghi chép lịch sử và cả các công trình đậm chất Nhật Bản ở Hội An ngày nay.
Ngày 21 tháng 9 năm 1973, Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản. Quan hệ hai nƣớc đã từng trải qua thăng trầm nhƣng những năm gần đây đã phát triển mạnh mẽ. Việt Nam coi Nhật Bản là một trong những đối tác hàng đầu. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản 10 năm trở lại đây luôn đạt mức tăng trƣởng trung bình 13,9%/ năm.
Nếu nhƣ năm 2006, kim ngạch thƣơng mại hai chiều Việt Nam - Nhật Bản đạt 9,93 tỷ USD thì nay đã đạt đến con số khoảng 30 tỷ USD và dự kiến năm 2020 sẽ đạt tới 60 tỷ USD1. Nhật Bản cũng là nhà tài trợ ODA (viện trợ phát triển chính thức) lớn nhất cho Việt Nam trong nhiều năm liền. Việt Nam đang là quốc gia đứng đầu cả về số lƣợng và tổng kinh phí trong các quốc gia nhận viện trợ trên thế giới mà JICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản) đang hợp tác hỗ trợ. Bên cạnh đó, hợp tác, giao lƣu giữa chính phủ và nhân dân hai nƣớc vẫn tiếp tục diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực nhƣ giáo dục, du lịch, nghệ thuật, thể thao, v.
Hai nƣớc duy trì thƣờng xuyên các chuyến viếng thăm tiếp xúc của các lãnh đạo cấp cao. Việt Nam và Nhật Bản cũng đã hợp tác chặt chẽ trong các vấn đề khu vực và quốc tế, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phƣơng. Năm 2009 hai nƣớc đã thiết lập khuôn khổ Quan hệ đối tác chiến lược và đến năm 2014, Chủ tịch nƣớc Trƣơng Tấn Sang và Thủ tƣớng Shinzo Abe đã nhất trí 1 Thanh Thanh, Thương mại, đầu tư Việt Nam – Nhật Bản giữ nhịp độ tăng trưởng cao, http://baocongthuong.vn/thuong-mai-dau-tu-viet-nam-nhat-ban-giu-nhip-do-tang-truong-cao.html, Báo Công thƣơng, truy cập ngày 7/2/2017 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nâng cấp quan hệ Việt Nam - Nhật Bản lên tầm cao mới: Quan hệ đối tác chiến lƣợc sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á. Có thể thấy rằng tiềm năng hợp tác giữa hai nƣớc trên mọi lĩnh vực vẫn còn rất nhiều.
Việc nghiên cứu chính sách ngoại giao của Nhật Bản nói chung và chính sách ngoại giao của Nhật Bản với Việt Nam nói riêng là vấn đề cấp thiết, phục vụ kịp thời cho mối quan hệ hợp tác giữa hai nƣớc. Trong khi đó, làn sóng toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng và sâu rộng ở hầu khắp các nƣớc trên thế giới, tình hình chính trị toàn cầu và sự cân bằng quyền lực của các cƣờng quốc cũng biến động liên tục. Các chính phủ đã nhận thức sâu sắc về sức mạnh quốc gia và bản sắc văn hóa của mình. Cụm từ “sức mạnh mềm” (hay “quyền lực mềm”) trở nên phổ biến và đƣợc thảo luận rất sôi nổi những năm gần đây cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của nó.
Các nƣớc đã tìm tòi những cách ứng xử trong môi trƣờng quốc tế nhằm sử dụng “sức mạnh mềm” một cách hiệu quả nhất – đó chính là sự phát huy sức mạnh của hệ giá trị quốc gia: bao gồm các giá trị về văn hóa, về thể chế xã hội, về chính sách quốc gia (đối nội và đối ngoại),… để cạnh tranh với thế giới.Trong đó, văn hóa có một sức mạnh to lớn, là một “sức mạnh mềm” đƣợc nhiều nƣớc nghiên cứu áp dụng. Khái niệm “ngoại giao văn hóa” ngày nay đã trở nên quen thuộc. Việc thực hiện “ngoại giao văn hóa” là điều mà tất cả các chính phủ buộc phải quan tâm thực hiện khi xây dựng chính sách đối ngoại. Từ sau chiến tranh Thế giới thứ II, Nhật Bản đã thực hiện nhiều chủ trƣơng, chƣơng trình ngoại giao văn hóa ở cấp độ thế giới cũng nhƣ khu vực.
Cùng với sự phát triển vƣợt bậc của nền kinh tế, vị thế và hình ảnh nƣớc Nhật trên trƣờng quốc tế cũng có nhiều thay đổi theo hƣớng tích cực. Các chính sách và hoạt động ngoại giao văn hóa của chính phủ nƣớc này góp một phần rất lớn vào kết quả đó. Nhƣ vậy, khi hợp tác Việt Nam – Nhật Bản ngày càng đa dạng và khăng khít, cộng với sự tác động của tình hình thế giới và khu vực và tình hình mỗi 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nƣớc, chính sách ngoại giao văn hóa của Nhật Bản đối với Việt Nam và hoạt động ngoại giao văn hóa của họ tại Việt Nam trở thành một trong những trọng tâm trong quan hệ hai nƣớc. Sự quan tâm của chính phủ Nhật đối với vấn đề này có xu ngày càng tăng.
Với mong muốn có một cái nhìn tổng quát hơn về quan hệ giữa Việt Nam và một đối tác lớn là Nhật Bản, tác giả lựa chọn đề tài “Ngoại giao văn hóa của Nhật Bản tại Việt Nam từ năm 1992 đến nay”, từ đó dự đoán triển vọng hợp tác của hai nƣớc và đề xuất một số phƣơng pháp nâng cao hiệu quả của công tác ngoại giao văn hóa của Nhật Bản tại Việt Nam, cũng nhƣ những gì Việt Nam có thể học hỏi đƣợc từ đất nƣớc bạn. Mục đích nghiên cứu đề tài Luận văn đƣợc thực hiện với mục đích làm sáng tỏ nguyên nhân Nhật Bản quan tâm đến chính sách ngoại giao văn hóa đối với Việt Nam, đánh giá quá trình thực hiện và hiệu quả của các hoạt động ngoại giao văn hóa của Nhật Bản tại Việt Nam từ khi hai nƣớc thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay và tác động của những hoạt động này đối với quan hệ hai nƣớc. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy và phát huy hiệu quả hoạt động ngoại giao văn hóa của Nhật Bản ở Việt Nam. Lịch sử nghiên cứu Từ năm 1971 đến nay, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đều công bố Sách xanh ngoại giao (Diplomatic Bluebook) hàng năm – tài liệu công khai chính thức về các quan điểm và chính sách, chiến lƣợc ngoại giao của chính phủ.
Tuy nhiên đây chỉ là văn bản mang tính chất đề cƣơng cho chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với các nƣớc nói chung. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản (1973 – 2013), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã xuất bản một tài 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liệu tóm tắt về hợp tác giữa hai nƣớc trong lịch sử hiện đại. Đây cũng chỉ là tài liệu ngắn điểm qua các sự kiện chính và thành tựu nổi bật trong quan hệ hai nƣớc. Số công trình nghiên cứu về quan hệ ngoại giao Nhật Bản – Việt Nam của các học giả ngƣời Nhật đã đƣợc xuất bản tại Việt Nam là không nhiều, chỉ có thể kể đến nhƣ Những bài học về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản của Kimura Hiroshi, Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam 1951 – 1987 của Shiraishi M.
Số còn lại chủ yếu là các bài báo cáo tại các hội thảo chuyên ngành tổ chức tại Việt Nam và Nhật Bản. Về phía Việt Nam, đã có không ít công trình nghiên cứu của các học giả với chủ đề văn hóa lịch sử và quan hệ đối ngoại của Nhật Bản đƣợc công bố trong một số sách và tạp chí chuyên ngành. Trong cuốn “Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh”, tác giả Ngô Xuân Bình đã giúp độc giả có một cái nhìn toàn cảnh về chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong một giai đoạn biến động tƣơng đối dài. Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai, do Ngô Xuân Bình và Trần Quang Minh viết đã phân tích quan hệ và hợp tác giữa hai nƣớc trong các lĩnh vực khác nhau, về các bài học trong tiến trình hợp tác, kinh nghiệm hợp tác, cũng nhƣ những thời cơ và thách thức cho tƣơng lai.
Bài viết Vai trò của công nghiệp văn hóa ở Nhật Bản của tác giả Hoàng Minh Lợi đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 5 đã xem xét vị trí và tác động của “công nghiệp văn hóa” trong bối cảnh toàn cầu hóa. Một số suy nghĩ về văn hóa truyền thống và ngoại giao Nhật Bản đƣợc đăng lên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 4 (35). Tác giả Nguyễn Đức Dƣơng đã liên hệ, so sánh văn hóa truyền thống với đƣờng lối chính sách và hoạt động ngoại giao của chính phủ. Nhƣ vậy, mặc dù có khá nhiều công trình nghiên cứu về ngoại giao cũng nhƣ văn hóa Nhật Bản nhƣng các sách hay bài nghiên cứu hầu hết đều nhấn mạnh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào việc hợp tác giữa hai nƣớc, gần nhƣ chƣa đề cập đến ngoại giao văn hóa với tƣ cách là một loại “sức mạnh mềm” của quốc gia.
Trong khi đó, ở thời đại ngày nay, ngoại giao văn hóa ngày càng đƣợc sử dụng một cách chủ động và trở thành một loại “sức mạnh mềm” hiệu quả của quốc gia dó. Luận văn này sẽ đi theo hƣớng tiếp cận nhƣ vậy. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng: các chủ trƣơng chính sách về ngoại giao văn hóa của chính phủ Nhật Bản và các hoạt động ngoại giao văn hóa đƣợc thực hiện bởi các cơ quan thuộc chính phủ hoặc đƣợc chính phủ Nhật Bản bảo trợ. - Phạm vi: + Thời gian: từ năm 1992 đến nay (2016) + Không gian: Việt Nam và Nhật Bản + Nội dung: ngoại giao văn hóa 5.
Phƣơng pháp nghiên cứu - Luận văn áp dụng phƣơng pháp tiếp cận của chủ nghĩa tự do về quan hệ quốc tế, với cấp độ phân tích toàn cầu và trong nƣớc - Sƣu tầm sách, báo, các báo cáo, văn bản quy định, nghị quyết, chiến lƣợc phát triển ngoại giao nói chung và ngoại giao văn hóa nói riêng của Nhật Bản trong các giai đoạn; tìm kiếm thông tin trên các trang web của các cơ quan chính phủ, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ của Nhật Bản. - Sử dụng các phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp so sánh và tổng hợp dựa trên các dữ liệu tìm đƣợc và biểu đồ hóa, sơ đồ hóa các dữ liệu đó.