Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Trung Quốc học (mã số: 62 31 06 02) với đề tài "Quan hệ giao lưu và hợp tác giáo dục giữa Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn từ 1950 đến nay" do nghiên cứu sinh Vũ Minh Hải thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Vũ Dương Ninh và GS. Nguyễn Văn Kim.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng có mối quan hệ bang giao lịch sử lâu đời. Từ ngày 18 tháng 1 năm 1950, khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, hợp tác giáo dục đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong quan hệ song phương. Trong giai đoạn 1950–1979, Trung Quốc đã tiếp nhận, đào tạo nhiều cán bộ, sinh viên, thực tập sinh Việt Nam, đồng thời hỗ trợ xây dựng Khu học xá Trung ương (Quảng Tây Nam Ninh Dục tài Học hiệu); ngược lại, Việt Nam cũng tiếp nhận lưu học sinh Trung Quốc sang học tập tiếng Việt, văn học và lịch sử tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ sau khi bình thường hóa quan hệ vào tháng 11 năm 1991, công cuộc Đổi mới tại Việt Nam ("giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu") và công cuộc Cải cách mở cửa tại Trung Quốc (chiến lược "Khoa giáo hưng quốc") đã tạo xung lực mới cho hợp tác giáo dục đại học. Tuy nhiên, các công trình khoa học trước đây chủ yếu tập trung vào quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế, hoặc chỉ khảo sát giáo dục ở phạm vi cục bộ (như khu vực biên giới) hay trong từng khoảng thời gian ngắn, chưa có công trình nào tái hiện có hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sử hợp tác giáo dục từ năm 1950 đến năm 2018 dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ gốc từ cả hai phía.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình vận động, đặc điểm, các giai đoạn phát triển căn bản, sự biến đổi, vai trò, thành tựu, điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và triển vọng trong quan hệ hợp tác giáo dục Việt – Trung từ năm 1950 đến năm 2018.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu bối cảnh lịch sử dẫn tới sự hình thành, phát triển của quan hệ hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc.
- Phân tích có hệ thống về quá trình vận động của quan hệ hợp tác giáo dục giữa hai nước qua từng giai đoạn.
- Phân tích chủ trương, chính sách phát triển giáo dục song phương, đa phương của hai nước để xác định xu hướng phát triển quan hệ giáo dục Việt – Trung.
- Đánh giá hoạt động hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn từ 1950 đến nay (2018).
- Thông qua phương pháp SWOT nhằm phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đặt ra trong việc phát triển quan hệ giao lưu và hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy vai trò của giáo dục trong việc phát triển quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn tiếp theo.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1950 đến năm 2018.
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 18 tháng 1 năm 1950 đến năm 2018 (mốc 40 năm Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa), được phân kỳ thành hai giai đoạn trọng tâm: 1950–1979 và 1980–2018.
- Phạm vi không gian: Hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc (không bao gồm vùng lãnh thổ Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hợp tác giáo dục đào tạo cán bộ, thực tập sinh, lưu học sinh đại học và nghiên cứu sinh; mảng giao lưu giáo dục xuất hiện từ đầu những năm 2000 được phân tích bổ trợ trong Chương 3.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã phân loại và điểm luận các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:
Nhóm các công trình nghiên cứu quan hệ hai nước trên các lĩnh vực: Kỷ yếu hội thảo "Việt Nam – Trung Quốc: tăng cường hợp tác cùng nhau phát triển – hướng tới tương lai" (Viện Nghiên cứu Trung Quốc, NXB Khoa học Xã hội, 2005) tập hợp 39 bài viết của các chuyên gia hai nước (Nguyễn Huy Quý, Đỗ Tiến Sâm, Lê Văn Mỹ, Trần Khánh, Lê Văn Sang, Nông Lập Phu, Cổ Tiểu Tùng, Vi Thụ Tiên, Chương Thâu...); cuốn sách "Quan hệ Việt – Trung trước sự trỗi dậy của Trung Quốc" do Nguyễn Đình Liêm chủ biên (2013); "Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hai mươi năm đầu thế kỷ XXI" do Lê Văn Mỹ chủ biên (2011); "Quan hệ kinh tế đối ngoại Trung Quốc thời kỳ mở cửa" do Đỗ Tiến Sâm đồng tác giả (1996); kỷ yếu "Kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc (1950 – 2015)" (2015) với các bài viết của các Đại sứ, nguyên Đại sứ như Hồng Tiểu Dũng, Tề Kiến Quốc, Lý Gia Trung, Nguyễn Văn Thơ, Bùi Hồng Phúc; các công trình tiếng Trung như "Lịch sử hai nghìn năm quan hệ Trung – Việt" của Văn Trang (Wen Zhuang, 2013), "Tình hình Việt Nam và quan hệ Trung Việt" của Cổ Tiểu Tùng (Gu XiaoSong, 2007), "Lịch sử quan hệ Trung Việt giản biên" của Hoàng Quốc An, Dương Vạn Tú, Dương Lập Băng, Hoàng Tranh (1986), và "Lịch sử quan hệ Trung Việt đại sự ký" của Trung tâm Nghiên cứu Indochina (Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây, 1980). Về kinh tế và văn hóa, có các công trình của Đỗ Tiến Sâm (2001, 2005, 2014), Phạm Sỹ Thành (2013), Fareed Zakaria, Paul Krugman, Zbigniew Brezinski (bản dịch 2011), Phạm Hồng Quý và Lưu Chí Cường (Fan HongGui, Liu ZhiQiang, 2007).
Nhóm các công trình nghiên cứu về chủ trương, chính sách giáo dục: Cuốn "Lịch sử giao lưu và hợp tác giáo dục quốc tế của Trung Quốc" của Dư Phú Tăng, Giang Ba, Châu Tiểu Ngọc (Yu FuZeng, Jiang Bo, Zhu XiaoYu, 2001); các bài viết của Nguyễn Văn Căn trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (2006) và Tạp chí Mặt trận (2010); bài viết về đối sách hợp tác giáo dục đại học Trung - Việt trong bối cảnh ACFTA của Lý Thái Sinh (Li TaiSheng, 2011).
Nhóm các công trình khảo cứu chuyên sâu và đánh giá quan hệ hợp tác giáo dục Việt – Trung: Bài viết của Vũ Minh Tuấn (Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2005) trong kỷ yếu hội thảo năm 2005 và các tài liệu hướng dẫn quan hệ quốc tế trong giáo dục và đào tạo (1996, 2002); bài viết của E. Smolkova trong sách do Tạ Ngọc Tấn chỉ đạo biên soạn (2012); cuốn "Lịch sử giáo dục Việt Nam trước tháng 8 năm 1945" của Nguyễn Đăng Tiến (1996); luận án và sách chuyên khảo của Nguyễn Văn Căn (2005, 2006) về cải cách giáo dục Trung Quốc giai đoạn 1978–2003; bài nghiên cứu của Yutaka Otsuka (2012) về viện trợ phát triển giáo dục đại học của Trung Quốc cho Việt Nam qua trường hợp Khu học xá Trung ương; sách của Trần Lập (Chen Li, 2011) về giáo dục đại học Việt Nam; các luận văn thạc sĩ của Hoàng Hà Mạnh (2014) và Đường Quốc Tùng (2014) về so sánh chính sách giáo dục vùng biên giới; luận văn thạc sĩ của Trần Phượng (Chen Feng, 2015) về hợp tác giáo dục Trung - Việt giai đoạn 1991–2015; bài nghiên cứu của Nông Lập Phu (Nong LiFu, 2012); các công trình của Jannette Ryan (2011), Anthony Welch và HongXing Cai (2011), Anthony Welch (2012, 2016); cuốn "Lịch sử giáo dục học thế giới" của Nguyễn Lân (1958).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các tài liệu trước đây chỉ tiếp cận hiện trạng trong thời gian ngắn hoặc từ một phía (chủ yếu từ nguồn tư liệu Trung Quốc), chưa có công trình nào bao quát toàn diện tiến trình lịch sử 1950–2018, kết hợp đồng thời nguồn tư liệu lưu trữ của cả hai quốc gia và đặt quan hệ giáo dục trong cấu trúc phân tích lý thuyết quan hệ quốc tế dưới góc nhìn của Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án vận dụng các lý thuyết quan hệ quốc tế và triết lý giáo dục để phân tích:
- Chủ nghĩa Mác - Lênin: Vận dụng nguyên lý chủ nghĩa quốc tế vô sản và sự kết hợp giữa phong trào giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản của V.I. Lênin để luận giải động lực hỗ trợ, đào tạo cán bộ của Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa dành cho Việt Nam trong giai đoạn 1950–1979.
- Chủ nghĩa Hiện thực: Sử dụng quan điểm về mối quan hệ giữa "nước lớn" và "nước nhỏ", tương quan sức mạnh tổng lực quốc gia, việc sử dụng giáo dục như một công cụ quyền lực mềm (phân biệt giữa văn hóa đại chúng và văn hóa hàn lâm theo định nghĩa của Joseph Nye Jr.) và chiến lược "Ngũ thông" trong Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc; đồng thời giải thích chiến lược đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam nhằm tái cân bằng quan hệ.
- Chủ nghĩa Tự do: Vận dụng luận điểm về sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng, vai trò của hội nhập quốc tế (Integration), sự tương hỗ giữa quan hệ kinh tế - thương mại (kim ngạch hai chiều năm 2017 đạt 93,69 tỷ USD, năm 2018 đạt 98 tỷ USD) với giao lưu giáo dục và hợp tác chính trị.
- Chủ nghĩa Kiến tạo: Dựa trên quan điểm của Peter J. Katzenstein về mối quan hệ tương hỗ giữa cấu trúc và chủ thể, vai trò của chuẩn mực xã hội, bản sắc và sự tương đồng về văn hóa - ý thức hệ giúp người học hòa nhập và giảm thiểu sốc văn hóa.
- Khái niệm và tư tưởng giáo dục: Khái niệm giáo dục theo Bách khoa thư Britannica, khái niệm hợp tác quốc tế theo Viện Ngôn ngữ học (2010), cùng các tư tưởng giáo dục của Platon, Khổng Tử, Karl Marx, Friedrich Engels, Chu Văn An và Hồ Chí Minh.
Về phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp phương pháp lôgic: Khảo sát các sự kiện hợp tác giáo dục theo trình tự thời gian và rút ra các quy luật, đặc điểm vận động.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu và phân tích văn bản: Đối chiếu chính sách giáo dục giữa hai nước, so sánh các giai đoạn trước và sau Đổi mới / Cải cách mở cửa.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin từ các nhân chứng lịch sử là cán bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo, cán bộ quản lý lưu học sinh, cựu lưu học sinh và cựu thực tập sinh.
- Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu về lưu học sinh, thực tập sinh, cơ sở đào tạo và học bổng.
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quan hệ hợp tác giáo dục hai nước.
Về nguồn tư liệu:
- Nguồn tư liệu gốc: Các văn kiện chính thức của hai Chính phủ (Hiệp định, Tuyên bố chung trên báo Nhân dân, cổng thông tin Bộ Giáo dục và Bộ Ngoại giao); tư liệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Phông Phủ Thủ tướng, Phông Bộ Giáo dục, Phông Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Phông Ủy ban Kế hoạch Nhà nước); nguồn tài liệu lưu trữ gốc khoảng 800 trang tại Trung tâm Lưu trữ thành phố Thượng Hải (Trung Quốc) về thực tập sinh Việt Nam giai đoạn 1960–1975.
- Nguồn tư liệu thứ cấp: Báo cáo tổng kết của các bộ ngành, sách chuyên khảo, bài báo khoa học và kỷ yếu hội thảo bằng tiếng Việt, tiếng Trung và tiếng Anh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài
Chương 1 tổng hợp, phân tích tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến quan hệ Việt – Trung và quan hệ hợp tác giáo dục giữa hai nước; chỉ rõ những kết quả đã đạt được cùng các khoảng trống khoa học cần tiếp tục giải quyết. Đồng thời, chương này thiết lập khung lý thuyết gồm Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do, Chủ nghĩa Kiến tạo và các khái niệm, tư tưởng giáo dục tiêu biểu làm nền tảng phân tích cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc từ 1950 đến 1979
Chương 2 phân tích các nhân tố lịch sử, nhân tố bên trong, bên ngoài và nền tảng hợp tác tác động đến quan hệ giáo dục hai nước. Trọng tâm của chương là việc làm rõ chủ trương của Việt Nam trong việc gửi học sinh, sinh viên, thực tập sinh sang Trung Quốc đào tạo nhằm phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến thiết đất nước, tiêu biểu là hoạt động của Khu học xá Trung ương tại Nam Ninh và các trường đại học tại Bắc Kinh, Vũ Hán, Thượng Hải. Đồng thời, chương trình bày chủ trương của Trung Quốc trong việc cử sinh viên sang học tập ngôn ngữ, văn học và lịch sử tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Chương 3: Quan hệ giao lưu và hợp tác giáo dục giữa Việt Nam – Trung Quốc từ 1980 đến nay
Chương 3 làm rõ những nhân tố mới thúc đẩy quan hệ hợp tác sau khi Trung Quốc tiến hành Cải cách mở cửa (1978), Việt Nam thực hiện Đổi mới (1986) và hai nước bình thường hóa quan hệ (1991). Luận án phân tích sự thay đổi nhận thức về vai trò của giáo dục như một thành tố quyền lực mềm và phát triển nguồn nhân lực; trình bày các kết quả hợp tác giáo dục đại học, hoạt động đào tạo tiếng Việt tại Trung Quốc, đào tạo tiếng Trung tại Việt Nam, các chương trình cấp học bổng, cùng các loại hình liên kết đào tạo như mô hình 3+1, 2+2 (điển hình tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).
Chương 4: Một số nhận xét về quan hệ giao lưu và hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc từ năm 1950 đến nay
Chương 4 đánh giá vai trò của hợp tác giáo dục trong tổng thể quan hệ song phương và phân tích các đặc điểm của tiến trình này. Thông qua ma trận SWOT, tác giả chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và triển vọng hợp tác, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác giáo dục giữa hai nước trong giai đoạn tiếp theo.
Dưới đây là bảng tổng hợp danh mục dữ liệu và bảng biểu thống kê chính được tác giả xây dựng trong luận án:
| STT |
Ký hiệu bảng trong luận án |
Nội dung dữ liệu thống kê |
Trang thể hiện |
| 1 |
Bảng 1 |
Số lượng sinh viên đi học đại học ở Trung Quốc từ trước năm 1953 – 1960 |
Tr. 72 |
| 2 |
Bảng 2 |
Số lượng sinh viên đại học từ Trung Quốc trở về từ 1955 – 1959 |
Tr. 72 |
| 3 |
Bảng 3 |
Số lượng thực tập sinh Việt Nam phân bố tại các địa phương của Trung Quốc từ 1965 – 1971 |
Tr. 82 |
| 4 |
Bảng 4 |
Phân bố thực tập sinh Việt Nam tại các địa phương từ 1975 – 1978 |
Tr. 83 |
| 5 |
Bảng 5 |
So sánh số lượng thực tập sinh có từ 1965 – 1971 và 1975 – 1978 học ở các địa phương Trung Quốc |
Tr. 83 |
| 6 |
Bảng 6 |
So sánh các chính sách quốc gia về giáo dục trước và sau đổi mới |
Tr. 118 |
| 7 |
Bảng 7 |
So sánh một số khía cạnh cơ bản trong chính sách giáo dục Việt Nam và Trung Quốc |
Tr. 121 |
| 8 |
Bảng 8 |
Các trường đại học/học viện Trung Quốc có mở chương trình đào tạo tiếng Việt |
Tr. 137 |
| 9 |
Bảng 9 |
Các trường đại học và cao đẳng có đào tạo tiếng Trung Quốc tại Việt Nam |
Tr. 139 |
| 10 |
Bảng 10 |
Số lượng lưu học sinh Việt Nam du học tại Trung Quốc từ 2004 – 2016 (Đơn vị: Nghìn người) |
Tr. 141 |
| 11 |
Bảng 11 |
Tổng kim ngạch thương mại Việt Nam Trung Quốc từ 2004 – 2016 |
Tr. 142 |
| 12 |
Bảng 12 |
Tổng số lưu học sinh Trung Quốc theo học chương trình 3+1 Trường ĐH KHXH&NV theo từng năm |
Tr. 145 |
Cùng với các bảng biểu trên, luận án sử dụng 5 biểu đồ để trực quan hóa số lượng thực tập sinh đào tạo nghề (1966–1978), tình hình du học sinh (2004–2017), số lượng học bổng chính phủ, tương quan giữa lưu học sinh và kim ngạch thương mại, và quy mô lưu học sinh theo mô hình 3+1 tại Khoa Ngôn ngữ học (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) giai đoạn 2003–2018.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp về mặt lý luận, thực tiễn và tư liệu như sau:
- Về tính toàn diện: Là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên ở Việt Nam phân tích quá trình vận động và phát triển của quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam – Trung Quốc trong suốt giai đoạn từ năm 1950 đến năm 2018.
- Về mặt lý luận: Bổ sung cơ sở lý luận trong phân tích lịch sử quan hệ song phương và hợp tác giáo dục thông qua việc kết hợp cách tiếp cận lịch sử với cách tiếp cận liên ngành (kết hợp các lý thuyết quan hệ quốc tế: Chủ nghĩa Mác - Lênin, Hiện thực, Tự do, Kiến tạo).
- Về mặt thực tiễn: Hệ thống hóa các chủ trương, biện pháp, quá trình chỉ đạo tổ chức triển khai, hiệu quả và tác động đa diện của quan hệ hợp tác giáo dục giữa hai nước qua từng thời kỳ lịch sử; phân tích cụ thể các điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và cơ hội.
- Về mặt tư liệu: Khai thác và xử lý khối lượng lớn tư liệu gốc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Việt Nam) và Trung tâm Lưu trữ thành phố Thượng Hải (Trung Quốc, khoảng 800 trang về thực tập sinh giai đoạn 1960–1975), cung cấp hệ thống số liệu phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo về quan hệ Việt – Trung.
Về các đề xuất giải pháp, luận án nêu ra các nhóm giải pháp nhằm phát triển quan hệ giao lưu và hợp tác giáo dục hai nước:
- Tăng cường hoàn thiện cơ chế pháp lý, đẩy mạnh triển khai thực hiện các thỏa thuận công nhận tương đương văn bằng, chứng chỉ.
- Điều chỉnh cơ cấu ngành nghề đào tạo, mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực khoa học công nghệ, kỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầu nhân lực thời kỳ công nghiệp hóa.
- Tăng cường quản lý nhà nước đối với lưu học sinh hai chiều, nâng cao chất lượng đào tạo và hỗ trợ hội nhập văn hóa.
- Đẩy mạnh hợp tác giáo dục đại học giữa các tỉnh biên giới Việt Nam với các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc) và khu vực lưu vực sông Hồng.
- Mở rộng các mô hình liên kết đào tạo song bằng (như mô hình 3+1, 2+2) và các dự án nghiên cứu khoa học chung giữa các viện, trường đại học hai nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án xác định giới hạn phạm vi không gian nghiên cứu tại Trung Quốc đại lục, không bao gồm Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao. Về nội dung, công trình tập trung chủ yếu vào hợp tác giáo dục đại học, sau đại học và đào tạo cán bộ, thực tập sinh, chưa đi sâu khảo sát các cấp học phổ thông hoặc đào tạo nghề tự do ngoài các hiệp định chính thức. Mảng giao lưu giáo dục do mới phát triển từ đầu những năm 2000 nên mức độ tích lũy dữ liệu thực tế còn giới hạn.
Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình trong tương lai có thể:
- Mở rộng nghiên cứu hợp tác giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật ứng dụng giữa các doanh nghiệp và cơ sở giáo dục hai nước.
- Nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả đóng góp kinh tế - xã hội của đội ngũ cựu lưu học sinh, cựu thực tập sinh sau khi hoàn thành chương trình đào tạo về nước.
- Khảo sát so sánh chi tiết mô hình hợp tác giáo dục giữa các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam với tỉnh Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Trung Quốc học, Đông phương học, Quan hệ quốc tế, Lịch sử ngoại giao và Giáo dục học.
- Giảng viên giảng dạy các học phần liên quan đến lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam, chính sách đối ngoại của Trung Quốc và hợp tác giáo dục quốc tế.
- Cán bộ hoạch định chính sách, chuyên viên quản lý hợp tác quốc tế tại Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các viện nghiên cứu chiến lược và các trường đại học đang triển khai chương trình trao đổi sinh viên hoặc liên kết đào tạo với các đối tác Trung Quốc.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 và Chương 3 với hệ thống số liệu lưu trữ gốc chi tiết về thực tập sinh, lưu học sinh giai đoạn 1950–1979 và các mô hình liên kết đào tạo đại học giai đoạn sau năm 1991.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở đào tạo nào tại Trung Quốc đóng vai trò biểu tượng trong việc đào tạo cán bộ cho Việt Nam giai đoạn 1950–1970?
Đó là Khu học xá Trung ương, phía Trung Quốc gọi là "Quảng Tây Nam Ninh Dục tài Học hiệu", được thành lập tại Nam Ninh (Quảng Tây) trong thập niên 1950 nhằm hỗ trợ Việt Nam bồi dưỡng giáo viên, học sinh và cán bộ phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.
2. Nguồn tài liệu lưu trữ gốc nào được luận án khai thác để nghiên cứu về thực tập sinh Việt Nam tại Trung Quốc giai đoạn 1960–1975?
Luận án khai thác nguồn tài liệu lưu trữ gốc gồm các Phông Phủ Thủ tướng, Phông Bộ Giáo dục, Phông Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Phông Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Việt Nam) và khoảng 800 trang tư liệu gốc từ Trung tâm Lưu trữ thành phố Thượng Hải (Trung Quốc).
3. Khung lý thuyết quan hệ quốc tế nào được luận án sử dụng để phân tích quan hệ giáo dục hai nước giai đoạn 1980–2018?
Luận án kết hợp ba lý thuyết quan hệ quốc tế chính: Chủ nghĩa Hiện thực (phân tích tương quan nước lớn - nước nhỏ, việc sử dụng giáo dục như quyền lực mềm hàn lâm), Chủ nghĩa Tự do (phân tích sự phụ thuộc lẫn nhau, hội nhập quốc tế và tác động của thương mại song phương) và Chủ nghĩa Kiến tạo (phân tích vai trò của tương đồng văn hóa, ý thức hệ và chuẩn mực xã hội).
4. Mô hình liên kết đào tạo đại học nào được luận án phân tích cụ thể tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội)?
Luận án phân tích mô hình liên kết đào tạo 3+1 (3 năm học tại trường cử đi, 1 năm học tại trường tiếp nhận) được triển khai cho lưu học sinh Trung Quốc theo học ngành tiếng Việt và ngôn ngữ học tại Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn từ năm 2003 đến năm 2018 (được thống kê tại Bảng 12 và Biểu đồ 5).
5. Luận án chỉ ra những điểm yếu và thách thức nào trong hợp tác giáo dục Việt – Trung qua phân tích SWOT?
Điểm yếu bao gồm sự mất cân đối về quy mô lưu học sinh hai chiều (lưu học sinh Việt Nam sang Trung Quốc đông hơn chiều ngược lại), cơ cấu ngành học còn thiên về ngôn ngữ - văn hóa mà ít ngành kỹ thuật - công nghệ cao, và các bất cập trong quản lý, công nhận văn bằng. Thách thức bao gồm những biến động trong quan hệ chính trị - an ninh khu vực và sự cạnh tranh thu hút người học từ các nền giáo dục phát triển khác.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Minh Hải là công trình chuyên khảo lịch sử - liên ngành tái hiện toàn diện tiến trình quan hệ giao lưu và hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1950 đến năm 2018. Thông qua việc phân kỳ lịch sử, khai thác các nguồn lưu trữ gốc tại Việt Nam và Trung Quốc cùng khung phân tích lý thuyết quan hệ quốc tế, luận án đã làm rõ sự chuyển biến từ mô hình viện trợ đào tạo trong chiến tranh sang hợp tác đại học đa dạng hóa trong thời kỳ Đổi mới và Cải cách mở cửa. Các kết quả đánh giá thực trạng và hệ thống giải pháp trong luận án cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học có giá trị cho công tác nghiên cứu học thuật và hoạch định chính sách giáo dục đối ngoại giữa hai quốc gia.