CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 1. Khái quát chung về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng.1 Sự ra đời nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển kéo theo sự phát triển không ngừng của hoạt động giao lưu trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thương mại.
Các giao dịch ngày càng phát triển về mặt số lượng, giá trị, độ phức tạp và được mở rộng trên phạm vi toàn thế giới. Đặc biệt, trong TMQT các giao dịch diễn ra có sự ngăn cách về thời gian, không gian, hệ thống pháp luật, điều kiện thị trường… làm cho các loại rủi ro càng gia tăng như: rủi ro không thực hiện hợp đồng, rủi ro tín dụng… để phòng ngừa rủi ro bên giao hàng hóa thường yêu cầu bên nhận hàng hóa phải có bảo lãnh của bên thứ ba (bên thứ ba thường là người có uy tín, có tiềm lực tài chính…) và như thế nghiệp vụ bảo lãnh ra đời. Trên thực tế có nhiều tổ chức tài chính cũng phát hành bảo lãnh như: chính phủ, công ty bảo hiểm, công ty tài chính… song bảo lãnh chủ yếu phát triển ở các NHTM. Tại sao lại như vậy? Nguyên nhân xuất phát các đặc điểm riêng có của các NHTM đó là: - NHTM là trung gian tài chính của nền kinh tế với vai trò chủ yếu là nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân đem cho vay và đầu tư để thu lợi nhuận.
Thông qua quá trình đó, ngân hàng nắm bắt được rất nhiều những thông tin của khách hàng, biết được năng lực tài chính của khách hàng thông qua tài khoản tiền gửi của họ để tạo cơ sở cho việc phát hành thư bảo lãnh đúng đắn. - NHTM thường xuyên cung cấp các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, có tiềm lực tài chính cao nên đã xây dựng được uy tín cũng như mối quan hệ gắn bó tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng. Uy tín của ngân hàng là Nguyễn Thị Hồng Hiên 3 Lớp: TC – 13B Luan van Khóa luận tốt nghiệp Đại học Đông Đô yếu tố quan tâm hàng đầu của khách hàng khi quyết định dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng (là đối tượng yêu cầu bảo lãnh). Như vậy sự ra đời nghiệp vụ bảo lãnh là một yếu tố khách quan, giúp phòng ngừa rủi ro trong giao dịch tài chính và phi tài chính.
Sự phát triển của bảo lãnh gắn liền với các hoạt động của các NHTM, tổ chức có khả năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh tốt nhất. Sự phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng: Bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ quốc tế, được sử dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới. Nhiều tài liệu dẫn chứng trong thương mại giao dịch, BLNH xuất hiện lần đầu tiên tại Mỹ vào những năm đầu thập kỉ 60 của thế kỉ XX như là một dạng thư tín dụng dự phòng ( Standby letter of credit). Ở thời điểm này, BLNH bắt đầu thực sự được sử dụng như là một hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tuy nhiên, phải tới những năm 70, hoạt động bảo lãnh của ngân hàng mới thật sự được sử dụng trong các giao dịch của TMQT. Nguồn gốc là từ sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp giàu mỏ khiến cho các quốc gia Trung Đông trở nên giàu có. Họ liên tục kí kết các hợp đồng kinh tế với các quốc gia Phương tây để thực hiện các dự án như: tạo cơ sở hạ tầng, canh tân công nông nghiệp… và để đảm bảo cho các hợp đồng này, các công ty giàu mỏ Trung Đông yêu cầu các tập đoàn phương tây phải chứng minh năng lực tài chính của mình thông qua BLNH. Đó là yêu cầu tất yếu bởi giao dịch TMQT là giao dịch luôn chứa đựng nhiều rủi ro.
Sau những năm 70, cùng với sự phát triển của TMQT, hoạt động bảo lãnh phát triển đáng kinh ngạc. Bảo lãnh thực sự trở thành công cụ phòng ngừa rủi ro quan trọng. Ngày nay, bảo lãnh ngày càng trở thành một nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng tại nhiều nước trên thế giới. Quy mô và doanh thu phí bảo lãnh của mỗi ngân hàng thể hiện uy tín trong nước cũng như quốc tế của ngân hàng đó đối với ngân hàng đối tác, đối với khách hàng và ngay cả với chỉnh phủ.
Trong xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa, chu chuyển vốn và giao lưu Nguyễn Thị Hồng Hiên 4 Lớp: TC – 13B Luan van Khóa luận tốt nghiệp Đại học Đông Đô TMQT hiện nay ngày càng gia tăng với mức độ khổng lồ, nghiệp vụ bảo lãnh rất được các ngân hàng chú trọng hoàn thiện và phát triển nhất là trong điều kiện mua bán chịu đang ngày càng phổ biến, tiết kiệm vốn cho cả bên bán hàng và bên mua hàng. Đây là nghiệp vụ mang lại thu nhập lớn cho các ngân hàng, giúp cho các ngân hàng đa dạng hóa sản phẩm từ đó giảm thiểu được rủi ro trong quá trình kinh doanh. Ngược lại, các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh chủ yếu sử dụng nghiệp vụ BLNH nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho công việc kinh doanh của mình đồng thời đảm bảo an toàn trong giao dịch kinh doanh. Tại Việt Nam, từ những năm 80, bảo lãnh đã được đề cập trong các văn bản pháp quy.
Song từ những năm 1980 – 1990, bảo lãnh của ngân hàng chỉ do NHNN thực hiện như một công cụ hỗ trợ kinh doanh cho các DNNN vay vốn nước ngoài để sản xuất kinh doanh. Sau công cuộc đổi mới trong hệ thống ngân hàng năm 1998, các NHTM Việt Nam đã có sự phát triển đáng ghi nhận, là kênh cung cấp quan trọng cho nền kinh tế đất nước. Các nghiệp vụ ngân hàng cũng ngày càng phát triển phong phú đa dạng. Tuy nhiên còn nhiều nghiệp vụ ngân hàng mới chỉ thực hiện ở giai đoạn bước đầu, trong đó có nghiệp vụ BLNH.
Nghiệp vụ này hết sức phức tạp đòi hỏi phải tuân thủ theo các tập quán và thông lệ quốc tế. Năm 1994, quy chế bảo lãnh và tái bảo lãnh của thống đốc NHNN được ban hành và lần đầu áp dụng cho các NHTM Việt Nam. Tuy là một nghiệp vụ ngân hàng mới và chưa có hành lang pháp lý chặt chẽ song BLNH đã dần khẳng định vị trí không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại.2: Khái niệm và đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng.
Có nhiều cách khái niệm khác nhau về nghiệp vụ BLNH, song về bản chất và phương thức thực hiện, các khái niệm này đều nêu bật lên nghĩa vụ Nguyễn Thị Hồng Hiên 5 Lớp: TC – 13B Luan van Khóa luận tốt nghiệp Đại học Đông Đô của người phát hành bảo lãnh phải thanh toán cho người nhận bảo lãnh nếu người đó có bằng chứng chứng minh người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. Theo bộ luật dân sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều 366 có định nghĩa: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện trả thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là bên được bảo lãnh) nếu đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Theo luật các TCTD điều 20 định nghĩa: “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận và hoàn trả cho các TCTD số tiền đã được trả thay”. Hình thức của BLNH là hợp đồng bảo lãnh hay còn gọi là thư bảo lãnh.Thư bảo lãnh là cam kết bằng văn bản giữa khách hàng và ngân hàng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả.
Như vậy, BLNH là cam kết bằng văn bản, là hình thức cấp tín dụng bằng chữ kí, tại thời điểm tham gia bảo lãnh, ngân hàng không trực tiếp xuất vốn mà chỉ dùng khả năng tài chính và uy tín của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đã cam kết từ trước.2: Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng. - Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc: Tham gia vào hoạt động bảo lãnh có ít nhất 3 chủ thể, đó là: Bên phát hành bảo lãnh (ngân hàng), bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh (bên thụ hưởng). Các chủ thể tham gia có mối quan hệ với nhau thông qua các hợp đồng là: Hợp đồng kinh tế, hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh. Cụ thể như sau: Nguyễn Thị Hồng Hiên 6 Lớp: TC – 13B Luan van Khóa luận tốt nghiệp Đại học Đông Đô Sơ đồ 1: Mối quan hệ các bên trong bảo lãnh ngân hàng.
Bên bảo lãnh 2 3 Bên được bảo lãnh 1 Bên nhận bảo lãnh 1 Hợp đồng kinh tế: Trước hết hoạt động bảo lãnh được phát sinh trong mối quan hệ kinh tế giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Hai chủ thể này thỏa thuận, kí kết hợp đồng kinh tế. Trong đó, bên nhận bảo lãnh yêu cầu phải có bảo lãnh của ngân hàng bảo lãnh và chỉ khi bên được bảo lãnh đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng thì bảo lãnh mới được xác lập. Từ đó phát sinh ra các mối quan hệ tiếp theo.
2 Hợp đồng bảo lãnh: Quan hệ giữa ngân hàng và bên được bảo lãnh thông qua hợp đồng bảo lãnh hay là mối quan hệ giữa ngân hàng cấp tín dụng và bên hưởng tín dụng. 3 Cam kết bảo lãnh (thư bảo lãnh): Thư bảo lãnh do ngân hàng phát hành trao cho bên nhận bảo lãnh trong đó quy định những điều kiện để bên nhận bảo lãnh có thể nhận được thanh toán của ngân hàng trong trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã cam kết. - Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập cao: Mặc dù quan hệ trong BLNH là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc nhau, tuy nhiên quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia mang tính độc lập tương đối. Đây chính là một đặc điểm nổi bật của bảo lãnh.
Điều này có nghĩa là việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh không phụ thuộc vào bất cứ giao dịch hay yếu tố nào ngoài giao dịch bảo lãnh. Ngân hàng có trách nhiệm thanh toán Nguyễn Thị Hồng Hiên 7 Lớp: TC – 13B Luan van Khóa luận tốt nghiệp Đại học Đông Đô cho bên nhận bảo lãnh khi bên này có yêu cầu và có bằng chứng chứng minh sự vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh.