Chương 1, Chương 2 sẽ đi tiếp vào những cơ sở lý thuyết, khái lược một số nghiên cứu trước đây nhằm tìm những mối liên quan phù hợp với vấn đề nghiên cứu và bối cảnh trong nước để xây dựng đề tài và đề xuất mô hình nghiên cứu. Một số khái niệm, định nghĩa: Hệ thống điện mặt trời: Hệ thống điện mặt trời hay “Hệ thống quang điện” (Photovoltaic Systems - PVS) chuyển hóa trực tiếp năng lượng ánh sáng mặt trời (quang năng) thành năng lượng điện (điện năng) dựa vào hiệu ứng quang điện, nghĩa là khi ánh sáng chiếu vào vật chất sẽ phát ra điện tử (electron). Một tấm bán dẫn đặt trên mái nhà sẽ là môi trường vật chất đón nhận ánh sáng mặt trời chiếu vào làm bật ra và di chuyển các elentron tự do từ điện cực N tới điện cực P của tấm bán dẫn rồi tạo ra điện trường. Khi điện trường đã được tạo ra, việc cần làm là thu thập và chuyển nó thành dòng điện 1 chiều (Drirect Current – DC).
Tiếp theo, một bộ biến tần (Inverter) được gắn để biến dòng điện từ một chiều (DC) thành dòng điện xoay chiều (Alternative Current - AC). Dòng điện xoay chiều là dòng điện mà chúng ta đang sử dụng ở khắp mọi nơi. Hệ thống này cũng được định nghĩa là kinh tế (Book, 1999), giá cả phải chăng (Berger, 2001), tương thích với các công nghệ khác (Knudsen, 2002), có thể làm giảm ô nhiễm (Luque 2001) và đáng tin cậy về mặt kỹ thuật (Cabraal và cộng sự, 1998). Timilsina và cộng sự (2000) cho thấy năng lượng mặt trời hấp dẫn ở cấp chính sách quốc gia vì nó có thể làm giảm phát thải khí carbon và góp phần vào GDP thông qua việc làm và thu nhập trong lĩnh vực sản xuất, kỹ thuật và cung cấp một sản phẩm cho việc xuất khẩu.1 Mô phỏng hệ thống điện mặt trời Nguồn: Green Moutain Energy Cần lưu ý hệ thống “Hệ thống quang điện" khác với “Hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời" (Solar Water Heating - SWH) là hệ thống sử dụng bức xạ mặt trời để nung nóng nước.
Ở nghiên cứu này, chỉ đề cập đến “Hệ thống quang điện" (PVS). Ý định hành vi (Behavioral Intention) Được định nghĩa là hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nổ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Sử dụng thực sự (Actual Usage) Được định nghĩa là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ (Peter D.
Nhận thức sự hữu ích (Perceived usefulness – PU): Được định nghĩa là "mức độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu quả công việc của họ". (Davis, 1989, trang 320) 13 Nhận thức dễ sử dụng (Perceived ease-of-use - PEOU) Được định nghĩa là "mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không cần phải nỗ lực" (Davis, 1989, trang 320) Thái độ (Attitude): Được định nghĩa là cảm xúc tích cực hay tiêu cực của một cá nhân về việc thực hiện hành vi mục tiêu (Fishbein, Ajzen, 1975) Lý thuyết liên quan Thuyết hành động hợp lý (TRA -Theory of Reasoned Action) Thuyết TRA được phát triển bởi Martin Fishbein và Icek Ajzen từ những năm 1975, được xem là học thuyết tiên phong trong các lý thuyết về thái độ và hành vi, làm bật lên hành vi sử dụng của người tiêu dùng là dựa trên lý lẽ. Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó, hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là Thái độ cá nhân và Chuẩn chủ quan, qua đó thái độ của một cá nhân được đo lường bằng sự đánh giá kết quả và niềm tin đối với hành vi đó. Niềm tin hành vi Thái độ Behavioral Beliefs hướng tới hành vi Attitude Đánh giá đầu ra toward Ý định Outcome Evaluation hành vi Hành vi Behavior Behavioral Behavior Niềm tin chuẩn tắc intention Chuẩn Normative Beliefs chủ quan Subjective Động lực để tuân thủ Norm Motivation to Comply Hình 2.2 Thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Fishbein và Ajzen, (1975).
14 Thuyết hành vi dự định (TPB - Theory of Planned Behavior) Thuyết TPB được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý TRA (Ajzen và Fishbein, 1975) xuất phát từ giới hạn của hành vi mà con người ít có sự kiểm soát (Ajzen, 1991), nhân tố mới Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control - PBC) được Ajzen thêm vào và cho rằng nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì nhận thức kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi (Ajzen, 1991). Thái độ Attitude Chuẩn Hành vi Xu hướng hành vi chủ quan thực sự Intention Behavior Subjective Norm Nhận thức kiểm soát hành vi Perceived Behavioral Control Hình 2.3 Thuyết hành vi dự định (TPB) Nguồn: Ajzen (1991). Mô hình TPB được xem tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu. Bởi vì mô hình TPB khắc phục được nhược điểm của mô hình TRA bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận.
Tuy nhiên mô hình TPB có một số hạn chế trong việc dự đoán hành vi (Werner, 2004). Một là, yếu tố quyết định ý định không giới hạn thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen, 1991). Có thể có các yếu tố khác 15 ảnh hưởng đến hành vi. Dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy rằng chỉ có 40% sự biến động của hành vi có thể được giải thích bằng cách sử dụng TPB (Ajzen, 1991; Werner, 2004).
Hai là, có thể có một khoảng cách đáng kể về thời gian giữa các đánh giá về ý định hành vi và hành vi thực tế được đánh giá (Werner, 2004). Trong khoảng thời gian, các ý định của một cá nhân có thể thay đổi. Hạn chế thứ ba là TPB là mô hình tiên đoán rằng dự đoán hành động của một cá nhân dựa trên các tiêu chí nhất định. Tuy nhiên, cá nhân không luôn luôn hành xử như dự đoán bởi những tiêu chí (Werner, 2004).
Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM–Technology Acceptance Model) Người sử dụng chấp nhận công nghệ đã được công nhận là một lĩnh vực quan trọng của nghiên cứu trong hơn hai thập kỷ qua (Chuttur, 2009). Mô hình chấp nhận công nghệ TAM được Davis (1989) phát triển để xác định các yếu tố gây ra sự thất bại của hệ thống và công nghệ. Trong mô hình của mình, Davis (1989) đã đề xuất rằng động lực của người sử dụng có thể được lý giải bởi ba yếu tố sau: Nhận thức dễ sử dụng (Perceived ease of use - PEOU); Nhận thức sự hữu ích (Perceived usefulness - PU); Và thái độ hướng đến việc sử dụng công nghệ (Attitude toward the use of the technology) (Davis, 1989). TAM ban đầu đã được mở rộng trong nhiều nghiên cứu, chủ yếu thông qua việc kiểm tra tác động của các biến số bên ngoài về niềm tin, thái độ, và ý định hành vi.
Ngoài ra, các nghiên cứu đã đưa ra một khung chấp nhận năng lượng toàn diện dựa trên các nghiên cứu chấp nhận công nghệ và nhằm giải thích ý định hành động trong việc sử dụng các công nghệ năng lượng bền vững mới. Theo Legris và cộng sự (2003), mô hình TAM đã dự đoán thành công khoảng 40% việc sử dụng một hệ thống mới. 16 Nhận thức sự hữu ích PU Thái độ hướng Ý định Chấp tới sử dụng hành vi nhận Nhận thức tính Attitude Behavioral sử dụng dễ sử dụng intention Usage toward using PEOU Hình 2.4 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Nguồn: Davis, (1989) Các yếu tố ảnh hưởng đến Thái độ và Hành vi dự định trong áp dụng Công nghệ từ các nghiên cứu trước: Tóm tắt một số nghiên cứu liên quan Bảng 2.1 Tóm tắt một số nghiên cứu có liên quan Kết quả tổng quát Tác giả Lĩnh vực nghiên cứu của các yếu tố tác động Roozbed Chấp nhận công nghệ Chi phí tác động gián tiếp đến thái độ Kardooni năng lượng tái tạo thông qua PU và PEOU. và cộng Kiến thức tác động tới PU, nhưng sự (2016) không tác động tới PEOU.
PU và PEOU tác động tích cực đến thái độ. Adam Chấp nhận công nghệ Thái độ hướng tới sử dụng năng lượng tái Faiers và năng lượng tái tạo tạo tác động tích cực đến tỷ lệ chấp Charles nhận công nghệ. Neame Tính tiên phong của người tiêu dùng có (2006) ảnh hưởng đến tỷ lệ chấp nhận công nghệ Syed Shah Chấp nhận công nghệ PEOU tác động mạnh mẽ nhất đến ý Alam và năng lượng tái tạo định sử dụng; kế đến là PU. 17 cộng sự Nhận thức kiểm soát hành vi tác động (2014) mạnh thứ 3 đến ý định sử dụng.
Nhận thức, chi phí và kiến thức tác động vừa phải đến ý định sử dụng. Liu và Chấp nhận công nghệ Thu nhập, trình độ kiến thức, hành vi của cộng sự năng lượng tái tạo người hàng xóm và niềm tin về chi phí sử (2013) dụng tác động gián tiếp đến ý định sử dụng thông qua thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi. Thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi đều có tác động tới ý định sử dụng. Kim và Chấp nhận công nghệ Tình trạng sức khoẻ, niềm tin và mối quan cộng sự thông tin trong ngành y tâm về sức khoẻ, đặc điểm của hệ thống (2015) về công nghệ có tác động gián tiếp mạnh mẽ đến thái độ và hành vi thông qua biến nhận thức nguy cơ, nhận thức sự hữu ích và nhận thức dễ sử dụng.
Nhận thức nguy cơ, nhận thức sự hữu ích và nhận thức dễ sử dụng tác động đáng kể đến thái độ và ý định hành vi, chưa tác động tới hành vi sử dụng. Tsai Chấp nhận hệ thống Tin tưởng vào xã hội, tin tưởng vào tổ (2014) theo dõi sức khỏe từ xa chức, và sự tham gia của xã hội có tác - Telehealth động gián tiếp đến ý định sử dụng thông qua ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức dễ sử dụng và nhận thức sự hữu ích. Khả năng tự hoạt động hiệu quả của hệ thống (System sefl-efficacy) có tác 18 động mạnh mẽ nhất đến nhận thức dễ sử dụng.