CHƯƠNG 1 Tổng quan về các phương pháp xử lý nền đất yếu và phương pháp bơm hút chân không có sử dụng bấc thấm 1.1 Cấu tạo và sự phân bố của đất yếu khu vực TP. Hồ Chí Minh và ĐBSCL [3] 1.1 Định nghĩa đất yếu và một số loại đất yếu thường gặp [3], [7] Đất yếu là những đất có khả năng chịu lực thấp (0,5 – 1,0 kG/cm2), hầu như hoàn toàn bão hòa nước, hệ số nén lún lớn, sức chống cắt nhỏ, mô đun tổng biến dạng nhỏ. Theo TCXD 245: 2000, đất yếu thường có:“ Độ sệt lớn ( IL > 1) ; hệ số rỗng lớn (e > 1), góc ma sát trong nhỏ (ϕ < 100) ; lực dính theo kết quả cắt nhanh không thoát nước từ c < 0.15 daN/cm2, lực dính theo kết quả cắt cánh tại hiện trường Cu < 0.35 daN/cm2 ; sức chống mũi xuyên tĩnh qc < 0,1 Mpa ; Chỉ số xuyên tiêu chuẩn SPT là N < 5 ”. Phần lớn các nước trên thế giới thống nhất về định nghĩa nền đất yếu theo sức kháng cắt không thoát nước Su và trị số xuyên tiêu chuẩn N như sau: - Đất rất yếu: Su ≤ 12.5 kPa hoặc N ≤ 2 - Đất yếu: Su ≤ 25 kPa hoặc N ≤ 4 Các loại đất yếu thường gặp là: đất loại sét (sét, sét pha, cát pha) ở trạng thái dẽo chảy hoặc chảy, bùn sét, than bùn, đất hữu cơ, … công trình xây dựng trên đất yếu bắt buộc phải có biện pháp xử lý gia cố nếu không sẽ khó đảm bảo ổn định cho công trình.2 Nền đất yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long và TP.
HCM Đất yếu đồng bằng sông Cửu Long: Trầm tích Holocen đồng bằng sông Cửu Long được phân chia thành ba bậc (Hình 1.2 - Cột địa tầng). Bậc Holocen trung – hạ (QIV -1-2): Cát màu vàng, xám tro, chứa sỏi nhỏ kết vón sắt, phủ trên tầng sét loang lỗ Pleistocen hoặc đá gốc, bề dày lớn nhất 12m. Bậc Holocen trung (Q IV -2): Bùn sét màu xám, sét xám xanh, xám vàng, bề dày từ 10m đến 50m. 6 Bậc Holocen trên (QIV -3): Gồm trầm tích biển, sông biển hỗn hợp (mQ IV -3), (mbQIV -3) là cát mịn, bùn sét hữu cơ; đầm lầy ven biển (bmQ IV -3) gồm bùn sét hữu cơ, than bùn và bồi tích ( aQIV3 −3 ): sét, cát pha sét chảy hoặc bùn sét.
Bề dày 9 – 20m, trung bình 15m.1: Bản đồ phân vùng đất yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long Có thể chia vùng đồng bằng sông Cửu Long thành 3 khu vực ĐCCT: 7 a. Khu vực ven TP. Hồ Chí Minh, thượng nguồn Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ Đông, rìa tây Đồng Tháp Mười, rìa quanh vùng Bảy Núi chạy tới ven biển Hà Tiên, Rạch Giá, rìa đồng bằng Vũng Tàu đến Biên Hòa là khu vực đất yếu, bề dày 1 – 10m. Khu vực đất yếu dày từ 5 - 30m, phân bố cận kề khu (a) và đại bộ phận trung tâm đồng bằng và trung tâm Đồng Tháp Mười.
Khu vực đất yếu dày 15 – 30m, chủ yếu thuộc ven sông Cửu Long, Bến Tre tới ven biển Cà Mau, Hậu Giang, Tiền Giang, Cần Giuộc, Vũng Tàu. Chỉ tiêu cơ lý các lớp đất chủ yếu cho trong bảng 1.1: Đặc trưng cơ học của các lớp đất chủ yếu khu vực ĐBSCL Sét Bùn sét Bùn sét pha Bùn sét Sét xám nâu Sét loang lỗ Loại đất amQIV3 −34 amQIV2 −34 ambQIV3 −34 1 ambQIV 2 maQIV 2 amQI − III Số lượng mẫu 24 142 25 63 32 76 3 0 2 0 3 8 ϕ(độ) 14 5 8 6 13 18 22 15 18 15 23 26 Đặc 0,09 0,01 0,01 0,01 0,06 0,13 C trưng 0,45 0,07 0,04 0,17 0,42 0,58 (kG/cm2) cơ học 0,9 0,29 0,1 0,29 0,85 1,85 0,018 0,056 0,038 0,059 0,024 0,008 a1-2 0,048 0,143 0,081 0,120 0,055 0,024 (cm2/kG) 0,102 0,432 0,169 0,376 0,128 0,078 15 6 10 6 13 34 2 E0 (kG/cm ) 46 12 21 17 42 87 71 39 40 39 65 120 1 ≤ 0,5 ≤ 0,5 ≤ 0,5 1 2,5 2 Rtc (kG/cm ) 2 1,8 3,5 3 2,45 5 Ghi chú: Trị số được ghi theo thứ tự từ trên xuống: nhỏ nhất, trung bình, lớn nhất. 8 ambQ IV −3 ambQ IV −3 amQ IV3 − 2 m, mabQ IV − 2 a, amQIV 1, 2 amPQIV 1 Hình 1.2: Cột địa tầng tổng hợp vùng đồng bằng sông Cửu Long 9 Đất yếu khu vực thành phố Hồ Chí Minh: Khu vực thành phố Hồ Chí Minh thuộc loại địa hình đồng bằng bồi tụ các trầm tích phù sa cổ đến trẻ với các nguồn gốc sông, đầm lầy, sông – biển, vũng vịnh hỗn hợp. Tầng trầm tích biến đổi khá lớn và phức tạp, chiều dày từ vài mét đến hơn 100m.
Khu vực thành phố Hồ Chí Minh có thể chia thành hai vùng: a. Vùng cao phía Bắc gồm Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, một phần các quận 1, 3, 3, 10, 12, Thủ Đức, Phú Nhuận, Tân Bình: Phân bố trầm tích cổ Pleistocen gồm có: sét, sét pha cát, cát mịn đến thô lẫn sỏi sạn có khả năng chịu tải tốt. Vùng đồng bằng thấp phía nam gồm toàn bộ các quận 2, 4, 6,7,8, 11, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ: Phân bố trầm tích trẻ Holocen nguồn gốc sông biển, đầm lầy gồm có: sét bùn, bùn á sét hữu cơ bão hòa nước, sét xám ghi, xám xanh có nguồn gốc trầm tích tro núi lửa bề dày từ 8 – 30m, một số nơi 35m đến 40m. Đất yếu, hoàn toàn bão hòa nước và chưa cố kết, đang trong quá trình phân hủy, độ ẩm rất cao từ 50% đến trên 100%, dung trọng khô nhỏ <10kN/m3, độ sệt Is>1, hệ số rỗng e > 1 (có thể đến 2 hoặc 3), chỉ số nén C c = 0,5 – 1,5, mô đun tổng biến dạng E0 = 5 – 10kG/cm2.
Nước dưới đất trong tầng bùn sét, á sét hữu cơ cách mặt đất từ 0,5m đến 0,8m có quan hệ thủy lực với nước mặt, sông, đầm lầy và nước thải. Nước bị nhiễm bẩn, nhiễm phèn, nhiễm mặn; có tính ăn mòn a xít và sunfat cao đối với móng công trình.2 Các phương pháp xử lý nền đất yếu [2], [3], [5] Nền đất yếu có sức chịu tải thấp và khả năng biến dạng lớn. Dưới tác dụng của tải trọng công trình, nền đất có thể bị phá hoại do mất ổn định về cường độ hoặc do biến dạng lún vượt quá giới hạn cho phép, hoặc do lún không đều. Chính do lún không đều và diễn biến theo thời gian lại quyết định sự bền vững của công trình: Độ lún tuyệt đối dù lớn nhưng có giá trị đều nhau tại mọi điểm thì không nguy hiểm bằng khi lún không đều, các ứng suất phát sinh trong điều kiện lún lệch của các kết cấu siêu tĩnh sẽ làm cho công trình bị nứt nẻ hoặc hư hỏng.
Do đó muốn xây dựng công trình trên nền đất yếu an toàn thì phải có những biện pháp xử lý kết cấu bên trên công trình cũng như với phần đất nền dưới móng.1 Cải tạo sự phân bố ứng suất và điều kiện biến dạng nền đất yếu Khi lớp đất yếu có chiều dày không lớn nằm trực tiếp dưới móng công trình thì có thể dùng các biện pháp xử lý nhân tạo như đệm cát, đệm đất, đệm đá, bệ phản áp,… để làm tăng khả năng chịu lực và hạn chế mức độ biến dạng (đặc biệt là biến dạng không đều) của đất nền dưới tác dụng của tải trọng công trình. Biện pháp xử lý đệm cát, đệm đất, đệm đá: Để tận dụng khả năng các lớp dưới của đất nền, người ta thường đào bỏ lớp đất yếu ở phía trên tiếp giáp với móng công trình và thay thế bằng đất, cát, đá có cường độ chống cắt lớn, dễ thi công và là vật liệu địa phương có sẵn. Lớp thay thế này được gọi là tầng đệm. Tầng đệm có các tác dụng sau: - Giảm độ lún của nền công trình và độ lún không đều, đồng thời làm tăng nhanh quá trình cố kết của đất nền.
- Làm tăng khả năng ổn định của công trình kể cả khi có tải trọng ngang tác dụng vì cát được nén chặt sẽ tăng lực ma sát và tăng sức chống trượt. - Giảm kích thước móng và độ sâu chôn móng do sức chịu của đất nền tăng lên. Ngoài ra, do thi công đơn giản, không đòi hỏi các thiết bị phức tạp nên phương pháp này được sử dụng khá rộng rãi. Tuy nhiên, không nên sử dụng các tầng đệm cát, đất trong một số trường hợp sau: - Lớp đất yếu cần thay thế khá dày, chiều dày trên 3m vì khi đó thi công khó khăn và chi phí cao.
- Mực nước ngầm cao và nước có áp vì cần phải hạ thấp mực nước ngầm và tầng đệm không ổn định (xói ngầm, hóa lỏng). Khi thiết kế lớp đệm cát, đất cần phải đảm bảo các điều kiện sau: - Lớp đệm phải ổn định dưới tác dụng của tải trọng công trình. - Áp lực trên mặt lớp đất ở đáy lớp đệm khi có tải trọng công trình phải nhỏ hơn áp lực tiêu chuẩn trên mặt lớp đất đó. - Độ lún toàn bộ của lớp đệm và lớp đất nằm dưới cũng như độ lún không đều của móng phải nhỏ hơn giá trị giới hạn qui định trong qui phạm thiết kế nền.
Bệ phản áp: Bệ phản áp là các khối đất đá đắp ở hai bên công trình để chống trượt do xuất hiện vùng biến dạng dẽo dưới nền đất yếu khi làm đường, đê, 11 đập ở phía trên. Bệ phản áp còn dùng để phòng chống lũ, chống sóng, chống thấm mất nước.3: Bệ phản áp Kích thước bệ phản áp xác định theo sự hình thành vùng biến dạng dẽo ở hai bên công trình, theo lý luận cân bằng giới hạn để xác định mặt trượt và trạng thái giới hạn của nền đất theo điều kiện khống chế ứng suất ngang.2: Những phương pháp xử lý nền nhân tạo Các phương pháp xử Dạng nền và các khả năng xây Điều kiện địa chất công trình lý nền nhân tạo dựng chúng 1. Đệm cát hoặc đất. Đất yếu, lún nhiều (than bùn, bùn 1.
Thay thế nền mới sét, đất đắp xốp yếu,…) 2. Đắp nền bằng đá hoặc cát sỏi Tầng bùn nằm dưới nước 1. Đầm chặt trên mặt đất a. Đầm bằng các khối nặng Các loại đất lỗ rỗng lớn, cát tơi xốp, đất dính chưa nén chặt b.
Đầm rung Cát rời xốp 2. Làm chặt dưới sâu a. Cọc đất Các loại đất lỗ rỗng lớn 2. Đầm chặt đất b.
Cọc cát Đất yếu thấm nước (bùn, á sét, á cát nhão yếu) c. Nén chặt bằng rung cơ học hay phương pháp thủy lực Đất cát rời xốp d. Làm chặt bằng phương pháp nổ Đất loại cát rời xốp 1. Silicat hóa Cát xốp, các loại đất có lỗ 3.