Chương 1 MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA LUẬT HON NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VE XỬ LÝ CÁC TRƯỜNG HỢP VI PHAM DIEU CAM KET HON 111. Khái niệm kết hôn, cấm kết hôn và xử lý vi phạm điều cấm. Theo Từ didn tiếng Việt, "két hôn là sự kết hợp hai người khác giới để lập gia đình, sinh đã con cái, thực hiện chức năng sinh học và các chức năng khác cũa gia định". Trong thực tiến khoa học Luật Hôn nhân va gia định ở Việt Nam va nước ngoái, nhiễu khái niệm vẻ hôn nhân đã được các nhả làm luật, các nha nghiên cửu luật học đưa ra, chẳng hạn: Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh- Mỹ (Common Law), phố ‘bién một khái niêm cổ điển mang quan niệm truyền thông về hôn nhân của Cơ Đốc giao, do Lord Penzance đưa ra trong phán quyết về vụ an Hyde v.
Hyde (1866): "Hôn nhân ia sựliền Rết tự nguyên suốt đời gitta một người đàn ông. và một người đần bà, mà không vì mm đích nào Khác", Ngoài khái niêm trên, hiện nay, một số luật gia ở châu Âu va Mỹ quan niệm: “H6n nhiên ia sưliên két pháp I} giữa một người nam và một người nữtvới tecách là vo chéng", hoặc "Hôn nhân là hành vi hoặc tinh trang chung sống giữa một người nam và một người nit với tư cách là vợ chéng". Ở Việt Nam, các giáo trình dân luật đưới chế độ cũ chưa đưa ra khái xiệm cụ thé về hôn nhân ma phan nhiều mới đưa ra khái niệm "giá thú": "giá. tú (hay hôn thi) là sự phốt hop cũa một người đần ông và một người đàn ba theo thé thức luật đmh"" hoặc "giá thú" cũng được hiểu là “sue trat gái lắp LPM Bromley.
Berkely aul lav Dienonay. Dictnay ofan - Turd edition Peer Colins ptblshing, 2000 4 Ngan Qaang Quin. Daviute Quyền 15S vin ot gio dc. Vin học Cin xấthăn 1068, 238 nam trước mặt viên hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ tương hỗ cho hat bên về phương điện đồng cue trung thành và tương tro’.
Theo một số luật gia. thuộc chế đô cũ, khái niệm "gia thú" có thể hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất, giá thú là hành vi phổi hợp vợ chẳng (kết hôn). Theo nghĩa thứ hai, giá thú là tình trạng của hai người đã chính thức lấy nhau lam vợ chẳng và thời gian hai người ăn ở với nhau. Điểu 3 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964, Điều 99 Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 của chính quyển chế độ cũ quy đính: "Không ai được phép tải liên nếu gid thi trước cluaa đoan tiêu".
Như vay, phải chăng các khát niệm "giá thú" được nêu trên đã bao hàm cả khái niêm về hôn nhân? Theo cỗ luật vả tục lệ Việt Nam, việc sinh con dé cái, đặc biết là con trai để nổi dõi tông đường va thờ phụng tổ tiên la mục đích chủ yếu của hôn. nhân Do đó, trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long déu quy định người chẳng có quyển bd vợ nêu người vợ không có khả năng sinh con (vô ‘i, Trên quan niềm đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định cắm. người bi bat lực hoàn toản về sinh lý kết hôn. Nhưng tục 1é và quan niệm về hôn nhân ở Việt Nam đã dân thay đổi, việc sinh con không còn được coi lả mục dich của hôn nhân, niên những quy định trên trong cỗ luật va Luật Hôn nhân vả gia đính năm 1959 không còn được quy định trong các đạo luật về "hôn nhân va gia đình sau nảy, Quyên kết hôn ở Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ngay trong tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 như sau: "Tắt cá mọi người đều sinh ra cô quyền bình đẳng.
Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thé xâm phan được, trong những quyền ấy, có quyền được sống quyền được tự do và. ‘mat câu lạnh phúc". Nam nữ sắc lâp quan hệ vợ chẳng nhằm tha mãn nhu cầu tình cảm chính là một trong những mục tiêu của mưu cầu hạnh phúc. Quan hệ hôn nhân được Nhà nước công nhận trên cơ sử pháp lý là đăng ký kết hôn 5.
Vi Văn Mẫn và Là Bit Chin, Đanh ừ và ti hậu Dân lệ và Bố hệt T sich Đụ học Si gin. 1968, 106 Theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014, nam nữ sắc lập quan hệ hôn nhân la nhằm để xây dựng gia đính âm no, bình đẳng, tiền bô, hạnh phúc, bên vững, Néu việc kết hôn chỉ nhằm hưởng lợi về tai sản hoặc các lợi ich khác thì quan hệ hôn nhân đó không được pháp luật thừa nhận, đồng thời, néu vợ chẳng chung sống nhưng không thé zây dựng được gia định. no 4m, bình đẳng, tiền bộ, hạnh phúc, bén vững thi việc tồn tại quan hệ hôn nhân đó đã không đạt được mục đích của hôn nhân. Trong trường hợp đó, Tòa án có thể giải quyết cho vợ chồng ly hôn nêu có yêu cầu.
Theo khoản 6 Điểu 3 Luật Hôn nhân và gia đỉnh năm 2014, *két "ôn là việc nam và nit xác lập quan hệ vợ chéng với nhau theo quy dinh của mật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn". Như vậy, kết hôn là sự kiên pháp lý lêm phát sinh quan hệ hôn nhân. Khi kết hồn, các bên nam nữ: phải tuân thủ day đũ các điều kiện kết hôn được Luật Hôn nhân va gia đình quy định va phải đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn có thẩm quyên thì việc kết hôn đó mới được công nhận là hop pháp và giữa các bên nam nữ. mới phát sinh quan hệ vơ chồng trước pháp luật.
Qua đây có thể thay, để việc kết hôn được coi là hợp pháp thì hai bên phải được luật pháp thừa nhận Mọi hình thức kết hôn mà không tuên theo quy đính của pháp luật đêu không được công nhân hợp pháp. Tir đây có thể tiểu: kết hôn là sự Mện pháp If do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo điều kién, trình tự tint tục inật định, nhằm công nhận các bên kết hôn ià người. Không ai có quyền tước đoạt quyển kết hôn, mưu cầu hanh phúc của 10 một người khác. Song dé bao về trật tự xã hôi, gia tri dao đức, thuần phong, mỹ tục, một số trường hợp kết hôn sẽ bị cắm.
Nếu một cả nhân có hành vi kết "hôn vi pham các trường hop bị câm kết hôn thi hành vi kết hôn đó được coi là ‘két hôn trải pháp luật. Bởi 1é, việc kết hôn, ngoài lợi ich vo chẳng, còn có lợi ích của 2 hội, Nha nước, thông qua các chức năng x8 hội của gia đính. "ủy thuộc vào từng giai đoan lich sử mả những quy đính của pháp luất vẻ cm kết hôn có sự khác biệt. Trong thời kỳ phong kiến khi pháp luật chỉ thể hiện ý chi của giai cấp thông tri, ho để ra những quy định điểu chỉnh những quan hé vẻ hôn nhân, gia đính ma theo họ la phù hop.
Những quy định. đó mắc nhiên trở thành những nguyên tắc chung của toàn zã hội. Ở thời kỳ đó, hôn nhân trai pháp luật được quan niệm la những cuộc hôn nhân không tuân thũ các điều kiện kết hôn như. không "môn đăng hé đổi", những quan hệ hôn nhân không được sự đồng ý của cha me, ho hảng.
Những quy đính nay thể hiên. 16 trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long Pháp luật của các quốc gia trên thé giới déu quy định về các trường, hop cầm không được kết hôn. Quy định cắm kết hôn xuất phát từ quan điểm. của Nha nước, của phong tục, tập quán, dao đức zã hội.
Nha nước cấm một số trường hợp kết hôn nhằm dim bảo sự lảnh manh của giống néi, đảm bảo trật ‘aE kỹ Diững 3ä 3 HEÍ tiển di 38 nis Vi Vey eke Guy dính che Kê hấu. trong một số trường hợp déu xuất phat từ mong muốn bao vệ quyển va lợi ich hợp pháp của con người và x hội 1. Khái niệm xử lý vi phạm điêu cẩm kết hôn đăm bao tính nghiêm minh cia pháp luật, moi vi pham pháp luật đều bị phát hiện và xử ly kip thời, theo đó, người có hảnh vi vi phạm pháp. luật sẽ bị xử lý bằng một chế tải pháp lý.
Vay xử lý vi phạm pháp luật la gi? Theo Từ điển Luật hoc của Viện Khoa học Pháp lý (Bô Tw pháp) xuất bản năm 2006 *Xữ lý vi pham pháp luật. Xem xét, quyết định áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lí đối với các cả nhân, tổ chức vi phạm pháp luật. ul vĩ pham pháp luật, phải dua vào các yếu tổ cầu thành hảnh vi vi phạm pháp luật. Mỗi hành vi vi phạm pháp luật bao gém bún yếu tổ câu thành là chủ thé, khách thé, mặt chủ quan va mặt khách quan.
Chủ thé vi phạm pháp luật có thé 1a cả nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp li. Nếu chủ thể 1a cá nhân thi phải đạt độ tuổi ma pháp luật quy định có năng lực chịu trách nhiệm pháp Ii va phai có trạng thái thén kinh tình thường, tức là không mắc bệnh tâm thin vả các căn bệnh khác ma không điều chỉnh được hành vi của mình. Khach thé vi phạm pháp luật là những quan hé xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bi hành vi vi phạm pháp luật zâm hai tới Mặt chủ quan của hảnh vi vi phạm bao gồm lỗi, động cơ, mục dich của hãnh vi vi pham. Mất khách quan của hành vi vi phạm pháp luất la những biểu hiện bên ngo&i của vi pham pháp luật.
Mặt khách quan bao gồm hành vi trái pháp luật, sự thiết hai cho xã hội, mỗi quan hệ nhân qua. Việc xử lí vi phạm pháp luật phải được tiến hảnh trong môi trường bao đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản. mà trước hết la nguyên tắc pháp chế, bao dam zử lí đúng người, đúng pháp luật, công bằng, nhân đạo, không làm nhục con người, tôn trọng các quyển con người của chính người bị xử lí, nhất là trong xử lí trách nhiém hình sự” 5 Theo khoản 1, 3 Điển 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 "1.