Luận án tiến sĩ về xạ khuẩn sinh chất kháng sinh chống nấm thực vật tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Nghiên cứu xạ khuẩn sinh chất kháng sinh chống nấm gây bệnh thực vật ở Việt Nam, góp phần bảo vệ cây trồng và nâng cao năng suất nông nghiệp.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2006

174
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

0.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

0.3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

0.4. GIỚI THIỆU VỀ CHẤT KHÁNG SINH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. GIỚI THIỆU VỀ CHẤT KHÁNG SINH

1.1.1. Chất kháng sinh (Antibiotic)

1.1.2. Sơ lược lịch sử nghiên cứu chất kháng sinh

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu xạ khuẩn kháng sinh chống nấm thực vật

Nghiên cứu về xạ khuẩn sinh chất kháng sinh chống nấm thực vật đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong nông nghiệp hiện đại. Các chất kháng sinh từ xạ khuẩn không chỉ giúp bảo vệ cây trồng mà còn giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc sử dụng hóa chất. Việc tìm kiếm và phát triển các chủng xạ khuẩn có khả năng sinh chất kháng sinh mạnh mẽ là cần thiết để đảm bảo an toàn cho môi trường và sức khỏe con người.

1.1. Đối tượng và nội dung nghiên cứu xạ khuẩn

Đối tượng nghiên cứu bao gồm các chủng xạ khuẩn phân lập từ đất Việt Nam và các loại nấm gây bệnh thực vật. Nội dung nghiên cứu tập trung vào việc phân lập, tuyển chọn và xác định hoạt tính kháng nấm của các chủng này.

1.2. Tính cấp thiết của nghiên cứu xạ khuẩn kháng sinh

Việc nghiên cứu xạ khuẩn kháng sinh là cần thiết do sự gia tăng các bệnh do nấm gây ra trong nông nghiệp. Các bệnh này gây thiệt hại lớn cho mùa màng và ảnh hưởng đến an ninh lương thực.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu xạ khuẩn kháng sinh

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng nghiên cứu về xạ khuẩn kháng sinh cũng gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự kháng thuốc của các nấm gây bệnh, điều này đòi hỏi phải có những giải pháp mới và hiệu quả hơn trong việc phát triển các chất kháng sinh từ xạ khuẩn.

2.1. Khó khăn trong việc phân lập xạ khuẩn

Phân lập các chủng xạ khuẩn có hoạt tính kháng sinh mạnh từ môi trường tự nhiên là một thách thức lớn. Nhiều chủng có thể không phát triển tốt trong điều kiện nuôi cấy tiêu chuẩn.

2.2. Tình trạng kháng thuốc của nấm gây bệnh

Sự kháng thuốc ngày càng gia tăng của các nấm gây bệnh thực vật khiến cho việc phát triển các chất kháng sinh mới từ xạ khuẩn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

III. Phương pháp nghiên cứu xạ khuẩn kháng sinh hiệu quả

Để nghiên cứu và phát triển các chất kháng sinh từ xạ khuẩn, cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Các phương pháp này bao gồm phân lập, nuôi cấy, tách chiết và xác định cấu trúc hóa học của các chất kháng sinh.

3.1. Phân lập và tuyển chọn xạ khuẩn

Quá trình phân lập và tuyển chọn các chủng xạ khuẩn có hoạt tính kháng sinh mạnh là bước đầu tiên và quan trọng trong nghiên cứu. Các phương pháp phân lập hiện đại giúp tăng cường khả năng tìm kiếm các chủng mới.

3.2. Tách chiết và tinh chế chất kháng sinh

Sau khi phân lập, việc tách chiết và tinh chế các chất kháng sinh từ xạ khuẩn là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của sản phẩm cuối cùng.

IV. Ứng dụng thực tiễn của xạ khuẩn kháng sinh trong nông nghiệp

Các chất kháng sinh từ xạ khuẩn đã được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp để phòng chống các bệnh do nấm gây ra. Việc sử dụng các chế phẩm này không chỉ giúp bảo vệ cây trồng mà còn góp phần vào việc phát triển nông nghiệp bền vững.

4.1. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các chế phẩm kháng sinh từ xạ khuẩn có thể giảm thiểu đáng kể thiệt hại do nấm gây ra, từ đó nâng cao năng suất cây trồng.

4.2. Tương lai của ứng dụng xạ khuẩn trong nông nghiệp

Với sự phát triển của công nghệ sinh học, tương lai của việc ứng dụng xạ khuẩn kháng sinh trong nông nghiệp hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giải pháp mới và hiệu quả hơn cho việc bảo vệ cây trồng.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu xạ khuẩn kháng sinh

Nghiên cứu về xạ khuẩn kháng sinh chống nấm thực vật không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang lại giá trị thực tiễn cao trong nông nghiệp. Việc phát triển các chất kháng sinh mới từ xạ khuẩn sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo vệ cây trồng và phát triển nông nghiệp bền vững.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu xạ khuẩn

Nghiên cứu xạ khuẩn kháng sinh là một lĩnh vực đầy tiềm năng, có thể giúp giải quyết nhiều vấn đề trong nông nghiệp hiện đại.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu xạ khuẩn

Cần tiếp tục đầu tư và phát triển nghiên cứu về xạ khuẩn để tìm ra các giải pháp mới, hiệu quả hơn trong việc phòng chống các bệnh do nấm gây ra.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU VỀ CHẤT KHÁNG SINH 1. Chất kháng sinh (Antibiotic) Chất kháng sinh, theo khái niệm cũ là bất kỳ sản phẩm vi sinh nào mà ngay ở nồng độ thấp (g/ml) cũng có thể ức chế hoặc tiêu diệt các vi sinh vật khác (vi khuẩn, nấm nem, nấm mốc…) một cách chọn lọc [124].

Thuật ngữ antibiotic bắt nguồn từ chữ Hy Lạp: “anti” là kháng lại, còn “bios” là sự sống. Thuật ngữ này được Waksman sử dụng vào những năm 1940 để phân biệt penixillin với sulfonamit đã được phát hiện từ những năm 1930. Thuật ngữ này đã được thay đổi sau khi penixillin và các chất kháng khuẩn khác đã được cải tiến và tổng hợp mới trong phòng thí nghiệm. Ngày nay, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi hơn để chỉ các hợp chất kháng khuẩn tự nhiên, bán tổng hợp, hoặc tổng hợp hoàn toàn có hiệu quả diệt khuẩn ở nồng độ thấp.

Nhiều chất kháng sinh được sử dụng như là một chất hoá trị liệu có khả năng kháng virut, động vật nguyên sinh, tế bào ung thư…Tất cả các CKS đều có tính độc chọn lọc. Mỗi chất kháng sinh thường chỉ tác dụng với một nhóm vi sinh vật nhất định. Một số CKS sử dụng ngoài mục địch y học có tầm quan trọng trong sinh thái như agroxin, bacterioxin, yếu tố gây chết (killer factor), microxin… 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu chất kháng sinh Alexander Fleming, người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học nghiên cứu CKS – nhà sinh vật học người Anh làm việc tại viện St.

Mary, London, đã phát hiện ra penixillin vào tháng 10 năm 1928. Trong khi tiến hành thí nghiệm, ông đã quan sát thấy một hiện tượng lạ: trên đĩa thạch đã cấy vi khuẩn Staphylococcus aureus bị nhiễm một loại nấm mốc xanh và xung quanh vùng nấm mọc thì vi khuẩn không thể phát triển được. Điều đó chứng tỏ rằng loại nấm này đã sinh ra một chất ức chế sự phát triển và tiêu diệt S. Fleming đã phân lập và định tên loại vi nấm này là Penicillium notatum và đặt tên cho chất kháng khuẩn Êy là penixillin.

16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một thập kỷ sau, nhờ sự nỗ lực hợp tác của các nhà vi sinh vật häc vµ sinh ho¸ häc Anh, Mỹ, penixillin đã được nghiên cứu, sản xuất với số lượng lớn và trở thành một “loại thuốc thần kỳ”. Florey đã được nhận giải thưởng Nobel vì đã sự khám phá ra giá trị to lớn của penixillin mở ra một kỷ nguyên mới trong y học – kỷ nguyên kháng sinh. Năm 1939, Rene’ Jules Dubos nuôi cấy Bacillus brevis phân lập từ vùng New Jersey và tách được một hỗn hợp gồm hai chất khác nhau là gramixidin và tiroxidin. Sau đó ít lâu Abraham, Waksman, Schatz và Bugie [82, 135, 172] đã phát hiện ra streptomixin, chất này có tác dụng chủ yếu trên vi khuẩn G(-), đặc biệt là trực khuẩn lao.

Tốc độ tìm kiếm chất kháng sinh ngày càng được đẩy mạnh. Những năm 1940-1959 được coi là thời kỳ hoàng kim của việc nghiên cứu CKS. Hàng loạt chất kháng sinh được phát hiện trong gia đoạn này có ứng dụng trong y học như: actinomixin (Waksman,1940), chloramphenicol (Erhlich,1947), chlotetraxyclin (Dugar, 1948), [172]. Trong suốt những năm 1960 và 1970, ngành công nghiệp về kháng sinh đã bùng nổ khắp thế giới.

Vào đầu năm 1970, hơn 270 CKS đã được sản xuất. Vào những năm 1990, nhiều công ty dược phẩm đã đầu tư để nghiên cứu và phát triển, tìm ra các chất kháng sinh mới do tình trạng kháng thuốc lan tràn của các vi sinh vật gây bệnh. Vào khoảng những năm 1993 đến 2002, số lượng các tác nhân kháng khuẩn đã tăng lên từ 90 đến 120 (Công bố tại Hội nghị Khoa học về tác nhân kháng khuẩn và hoá trị liệu). Tại hội nghị này 21 công ty dược phẩm lớn đã trình bày các phương pháp để khám phá ra các CKS mới [45,129].

Như vậy, sau hơn 70 năm kể từ khi khám phá ra CKS, đến nay, số lượng CKS được phát hiện lên tới trên 17. Tuy nhiên chỉ có 1-2 % CKS đủ tiêu chuẩn để sử dụng rộng rãi trong thực tiễn y học. Thị trường CKS trên thế giới, theo thống kê năm 2002 đã đạt doanh số 26 tỷ đôla [174], và sẽ vẫn còn tăng khoảng 0,6% từ năm 2002-2008. Con số này cho thấy tiềm năng to lớn của ngành công nghệ kháng sinh trong nền kinh tế quốc dân.

Sự xuất hiện ngày càng nhiều các vi khuẩn đa kháng thuốc và sự thiếu hụt các nhóm kháng sinh mới, làm cho chúng ta đang phải đối mặt với “thời kỳ hậu kháng sinh” (post antibiotic era). Chính vì thế nhiệm vụ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặt ra của ngành công nghiệp sản xuất kháng sinh là: một mặt cải biến các CKS cũ để tránh tình trạng kháng thuốc, mặt khác phải thúc đẩy nghiên cứu và phát triển (R&D) để tìm ra các chất kháng sinh mới với các cơ chế tác động mới hoàn toàn. Ngay từ những năm 1950, CKS đã được nghiên cứu sử dụng trong việc phòng chống bệnh, kích thích sự tăng trưởng của động vật nuôi và cây trồng. CKS thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới.

Có thể nói ngành công nghiệp sản xuất CKS vẫn đang là một trong những hướng phát triển mạnh mẽ nhất trong công nghệ sinh học. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành Vi sinh vật học, Hoá sinh học, Di truyền học phân tử và đặc biệt là sự ra đời của công nghệ sinh học đã tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực nghiên cứu CKS đạt được những thành tựu lớn lao. Dưới đây là các mốc thời gian phát hiện ra các CKS trong những năm vừa qua. Mốc thời gian tìm ra các chất kháng sinh khác nhau 1.

CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA CHẤT KHÁNG SINH Cơ chế tác dụng của CKS là những cách thức mà CKS tác động lên những vị trí đích khác nhau trong tế bào, qua đó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của vi sinh vật. Cơ chế này phụ thuộc vào bản chất hoá học, nồng độ chất kháng sinh và cấu trúc hiển vi của tế bào. Các CKS có bản chất hóa học khác nhau thì thường có cơ chế tác dụng khác nhau, còn các chất có bản chất hoá học gần giống nhau thì có hoạt phổ tương tự như nhau. Đồng thời nó còn phụ thuộc vào nồng độ.

Một số chất 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kháng sinh khi ở nồng độ thấp không những không tác dụng ức chế sinh trưởng của vi sinh vật mà còn kích thích vi sinh vật phát triển. Ngoài ra, cùng một chất kháng sinh như nhau nhưng trong các điều kiện khác nhau thì cơ chế tác động cũng có thể không hoàn toàn giống nhau. Nhìn chung, cơ chế tác dụng của CKS được thể hiện theo năm phương thức sau .Ức chế tổng hợp thành tế bào Thành tế bào của vi khuẩn là cấu trúc bảo vệ tế bào vi khuẩn chống lại áp suất thẩm thấu. Thành phần cấu trúc chủ yếu của thành tế bào là peptidoglycan (PG).

PG là một đại phân tử cấu tạo bởi các chuỗi polisaccarit bao gồm đơn phân là các dẫn xuất của đường glucoza nằm xen kẽ nhau và lặp lại một cách liên tục (NAG- NAM). Để tạo thành mạng lưới thực sự vững chắc, các chuỗi polisaccarit của PG phải liên kết chéo với nhau thông qua một đoạn peptit ngắn giữa các tetrapeptit của tiểu phần NAM. Để có thể sinh trưởng và phân chia, tế bào phải tổng hợp các đơn vị PG mới và vận chuyển nó tới đúng vị trí sinh trưởng của thành tế bào [135]. Phần lớn các tác nhân kháng khuẩn thông thường đều hoạt động dựa trên sự ức chế quá trình hình thành liên kết chéo giữa các tetrapeptit của tiểu phần NAM.

Nổi bật nhất giữa các chất này là các kháng sinh -lactam mà đại diện là penixillin và cephalosporin. Đây là các chất kháng khuẩn có vùng chức năng là các vòng - lactam. Các kháng sinh -lactam ức chế sự hình thành PG mới bằng cách gắn với transpeptidaza là enzym cần thiết cho sự hình thành liên kết chéo giữa các chuỗi PG, kìm hãm hoạt tính của enzym này và làm gián đoạn sự tổng hợp thành tế bào của vi khuẩn [135]. Tuy nhiên, cần chú ý rằng các chất kháng sinh này chỉ hoạt động ở giai đoạn tế bào đang sinh trưởng vì các tế bào già hay ở trạng thái nghỉ không sinh tổng hợp PG.

Các penixillin không thấm qua được màng ngoài của vi khuẩn Gram (-) nên hiệu quả chống các vi khuẩn này rất thấp, tuy nhiên các penixillin và cephalosporin phổ rộng hoặc bán tổng hợp có thể vượt qua màng ngoài vi khuẩn Gram (-). Tế bào của người không có PG nên các kháng sinh -lactam rất ít độc đối với tế bào người [135, 172]. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các chất kháng sinh khác như vancomyxin do Streptomyces orientalis sinh ra và CKS bán tổng hợp xycloserin ức chế sự hình thành thành tế bào theo một cách khác. Chúng cản trở trực tiếp đến sự hình thành cầu D-alanin-D-alanin liên kết các tiểu phần NAM của các vi khuẩn Gram (+).

Tuy nhiên, các vi khuẩn không có cầu D-alanin-D-alanin có khả năng đề kháng tự nhiên đối với những chất kháng sinh này. Một chất kháng sinh ức chế tổng hợp thành tế bào khác là bacitracin ngăn cản sự vận chuyển các đơn vị PG mới từ tế bào chất đến vị trí tổng hợp của thành tế bào. Cũng như các CKS -lactam, vancomyxin, xycloserin và bacitraxin làm gián đoạn sự tổng hợp thành tế bào và làm tế bào bị phá vỡ do áp suất thẩm thấu [135]. Liên kết với protein thụ thể Người ta cho rằng, một số protein liên kết với penixillin–(Peniciline Binding Protein (PBP) nằm trên màng tế bào vi khuẩn) là các đích cho các penixillin và các cephalosporin liên kết.

Tất cả các vi khuẩn đều có loại protein này, ví dụ Staphylococcus aureus có 4 PBP còn E.coli thì có ít nhất là 7 PBP. Các PBP này hoạt động như các enzym và biểu hiện hoạt tính của cacbocylpeptidaza, transpeptidaza, enđopeptidaza và transglycozylaza. Song vai trò chính xác của các PBP, bất kể thuộc hoạt tính enzym nào, trong sự sinh trưởng và phân chia tế bào, vẫn chưa được biết rõ, và vì vậy cơ chế phân tử của hoạt động gây chết của các chất kháng sinh nhóm β-lactam vẫn chưa được giải thích. Ức chế sự tổng hợp protein Các tác nhân kháng khuẩn có đích tấn công là tiểu phần 30S của riboxom gồm các aminoglycozit và các tetraxyclin.

Aminoglycozit bao gồm streptomyxin, gentamyxin, neomyxin, kanamyxin, amykaxin, tobramyxin…Chúng gắn vào tiểu phần 30S của riboxom, làm biến dạng tiểu phần này và gây ra sự bắt cặp không chính xác giữa các codon của ARNt và các anticodon của ARNvc tương ứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ