Chương 1 sẽ nêu cụ thể các vấn đề chính gồm: lý do chọn đề tài nghiên cứu, tóm tắt mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Đồng thời chương này cũng trình bày các khoảng trống nghiên cứu, những điểm mới của luận án, qua đó trình bày những ý nghĩa chính của luận án. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Sau đây, chúng ta ta sẽ tìm hiểu các lý thuyết chính, các nghiên cứu trước đây về cơ chế thù lao của giám đốc điều hành và các giả thuyết nghiên cứu luận án: 2.1 Thù lao giám đốc điều hành và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp 2.1 Lý thuyết đại diện (The principal agent theory) Lý thuyết đại diện được Michael Jensen và William Meckling xây dựng vào năm 1976, thể hiện mối quan hệ giữa người đại diện (Ban giám đốc) và chủ sở hữu của doanh nghiệp (các cổ đông). Theo mong muốn của chủ sở hữu, người đại diện sẽ đại diện cho lợi ích của chủ sở hữu mà không quan tâm đến lợi ích cá nhân của mình.
Tuy nhiên, việc các lợi ích khác nhau của chủ sở hữu và người đại diện có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa họ, vì các đại diện có thể không hành động vì lợi ích tốt nhất cho chủ sở hữu. Ngoài ra, theo Holmstrom (1979), thông tin bất đối xứng giữa các giám đốc điều hành và chủ sở hữu công ty tạo điều kiện cho các rủi ro về tư cách, đạo đức cá nhân, từ đó có thể dẫn đến nhiều vấn đề bất hòa trong công ty. Các tổn thất này có thể gây ra sự thiếu hiệu quả trong hoạt động kinh doanh và gây tổn thất tài chính cho doanh nghiệp. Chính điều này dẫn đến chi phí đại diện cho công ty.
Chi phí đại diện còn phát sinh giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ trong các công ty cổ phần. Các cổ đông nhỏ thường bị thiệt thòi và bị chèn ép bởi các cổ đông lớn, họ không can thiệp được các quyết định của cổ đông lớn gây thiệt hại cho mình. Cổ đông luôn mong muốn tối đa hóa giá trị công ty còn lợi ích của các nhà điều hành thường gắn với thu nhập nhận được. Vì vậy, các nhà điều hành thường gia tăng lợi ích của mình bằng cách gia tăng quyền lực của mình, để từ đó có thể gia tăng mức thu nhập của mình.
Chi phí đại diện đề cập đến chi phí để giải quyết xung đột lợi ích giữa các cổ đông và người đại diện. Ví dụ, các cổ đông mong muốn người đại diện đưa ra các quyết định sẽ làm tăng giá trị cổ phần công ty. Thay vào đó, các nhà đại diện lại muốn mở rộng kinh doanh và tăng lương cho mình, điều này có thể không làm tăng giá trị cổ phần. Các công ty nên tìm cách giảm thiểu những xung đột lợi ích này thông qua các chính sách của mình như: + Hợp đồng thù lao khuyến khích dựa trên hiệu suất của doanh nghiệp.
Theo lý thuyết đại diện, công ty có thể sử dụng các ưu đãi dành cho các đại điện để chuyển hướng hành vi của họ cho phù hợp lợi ích chung của chủ sở hữu. Một ví dụ điển hình là Tập đoàn công nghệ 15 máy tính nổi tiếng thế giới Apple Inc. của Mỹ, năm 2013 bắt đầu yêu cầu nhân viên điều hành cấp cao và thành viên hội đồng quản trị phải sở hữu cổ phần trong công ty. Động thái này nhằm mục đích gắn kết lợi ích của giám đốc điều hành với các cổ đông.
Về mặt lý thuyết, sẽ hạn chế các hành động gây tổn hại cho các cổ đông vì các nhà quản lý bây giờ đã trở thành cổ đông, là nhà đầu tư của công ty. + Sử dụng thị trường để kiểm soát doanh nghiệp. Kỷ luật thị trường đối với các nhà quản lý doanh nghiệp là nguy cơ sự tiếp quản của đại diện mới. Có thể tạo động lực cho nhà đại diện mới với cổ phần trong công ty.
Thông qua sự ưu đãi về cổ phần, sẽ giúp điều chỉnh lợi ích của chủ sở hữu và các đại diện mới của công ty. + Sử dụng sự giám sát của các cổ đông, thậm chí là sử dụng một số biện pháp trừng phạt. Quản trị doanh nghiệp có thể được sử dụng để thay đổi các quy tắc theo đó các nhà đại diện sẽ hành động vì lợi ích của cổ đông. Qua đó, các chủ sở hữu, do phải nhờ các nhà quản lý để đại diện cho lợi ích của mình, phải khắc phục việc thiếu thông tin về việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của đại diện.
Trong cơ chế quản trị doanh nghiệp hiệu quả, phải có động cơ khuyến khích cho các nhà đại diện hành động đồng nhất với lợi ích của cổ đông; các khuyến khích tạo hành vi sai trái phải được loại bỏ, và các quy tắc ngăn chặn rủi ro đạo đức, thậm chí là một số biện pháp trừng phạt phải được đưa ra một cách nghiêm túc. Việc tìm hiểu các cơ chế tạo ra các cốt lõi vấn đề sẽ giúp doanh nghiệp phát triển các chính sách quản trị mang lại nhiều lợi ích hơn cho doanh nghiệp.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh (Firm performance) Đo lường hiệu quả hoạt động công ty là trọng tâm của quản lý chiến lược (Venkatraman và cộng sự, 1986). Ngày nay, hiệu quả hoạt động kinh doanh đã trở thành một khái niệm phổ biến trong các nghiên cứu về quản lý và thường được sử dụng như một biến phụ thuộc. Trong những năm 1980, hiệu quả hoạt động của công ty phụ thuộc vào khả năng tạo ra giá trị cho khách hàng của mình.
Robbins (1987) đã định nghĩa hiệu quả hoạt động kinh doanh là mức độ mà một tổ chức có thể xem xét cả phương tiện và mục đích mà tổ chức hoạt động như thế nào. Cherrington (1989) xem hiệu quả hoạt động kinh doanh là một khái niệm về sự thành công hoặc cách thức mà tổ chức đó hoạt động hiệu quả để đạt được mục tiêu. Trong thập kỷ tiếp theo, Adam (1994) đã nhìn nhận hiệu quả hoạt động kinh doanh của tổ chức phụ thuộc sâu sắc vào chất lượng hiệu suất của nhân viên; Tác giả tin rằng để đảm bảo hiệu quả tổ chức đạt được chất lượng cao, điều cần thiết là công nhân của công ty phải thường xuyên tiếp xúc với kiến thức và kỹ năng được cập nhật thường xuyên, 16 từ đó sẽ giúp họ theo kịp với những thay đổi mới đang diễn ra trên thị trường, và cuối cùng, sẽ giúp tăng chất lượng hoạt động của tổ chức. Theo Harrison và cộng sự (1999) khẳng định rằng một tổ chức đạt hiệu quả nếu tổ chức đó đáp ứng các tiêu chuẩn, các nhu cầu của các bên liên quan.
Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, định nghĩa của hiệu quả hoạt động kinh doanh của tổ chức chủ yếu tập trung vào khả năng của một tổ chức khai thác hiệu quả các nguồn lực sẵn có để đạt được các thành tích phù hợp với mục tiêu đề ra của công ty. Tổng quát hơn Lebans và Euske (2006) cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là một tập hợp các chỉ số tài chính và phi tài chính cung cấp các thông tin về mức độ kết quả hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Theo Richard và cộng sự (2009), hoạt động của một tổ chức bao gồm ba yếu tố thể hiện cụ thể về kết quả của công ty: hiệu quả tài chính (lợi nhuận, lợi nhuận trên tài sản, lợi tức đầu tư…); hiệu suất thị trường sản phẩm (bán hàng, thị phần…) và lợi tức cổ đông (tổng lợi nhuận của cổ đông, giá trị gia tăng…). Trong đó, hiệu quả hoạt động được đánh giá tốt nhất qua hiệu quả tài chính, thể hiện việc sử dụng hiệu quả của các nguồn lực doanh nghiệp (Venkatraman và cộng sự, 1986).
Đối với doanh nghiệp kinh doanh, “lợi nhuận” là mục tiêu để phát triển và tồn tại trên thị trường (Selvam và M. Các mục tiêu xã hội của các doanh nghiệp công có thể liên quan đến chất lượng dịch vụ thu hút khách hàng (Selvam và M. Việc cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có các phép đo lường để xác định mức độ sử dụng các nguồn lực ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Các nhà nghiên cứu đã nỗ lực tìm kiếm để xác định các biện pháp đo lường hiệu suất kinh doanh ngày càng hiệu quả hơn.
Có nhiều biện pháp tài chính khác nhau có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của một công ty. Trong đó, các nhà nghiên cứu thường sử dụng một trong hai cách đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh: một là sử dụng các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi kế toán; hai là dùng các chỉ tiêu đo lường mang tính thị trường. Đo lường hiệu suất dựa trên kế toán là các chỉ số về lợi nhuận của các công ty trong ngắn hạn như: Lợi nhuận trên tài sản (ROA), Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI), Lợi nhuận trên doanh thu (ROS), Tỷ suất lợi nhuận (PM), Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS)… còn các chỉ tiêu đo lường mang tính thị trường như Tobin’sQ, tỷ số giá thị trường/giá sổ sách (PBV-Price to book value ratio)…ROA (Return on total assets) được tính bằng tỷ số giữa lợi nhuận sau thuế và giá trị sổ sách của tổng tài sản công ty, qua đó đo lường được khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty. ROA như một phép đo lường dựa trên kế toán, đo lường hoạt động và hiệu suất tài chính của công ty.
ROA đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản để 17 tạo lợi thế cho các cổ đông. Theo Mashayekhi và Bazazb (2008), ROA là một biện pháp đo lường dựa trên kế toán được ưa thích hơn so với các biện pháp dựa trên thị trường do có thể đo lường một cách nhanh chóng và thể hiện được mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu suất công ty. ROE được tính bằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Vì vậy, ROA và ROE có sự tương quan với nhau.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư ROI, việc xác định chỉ số này nhằm mục đích đo lường hiệu quả đồng vốn đầu tư, được tính bằng tỷ số giữa lợi nhuận ròng so với vốn đầu tư. Việc tính toán ROI khá phức tạp do phải phụ thuộc vào việc tính toán, xác định các khoản đầu tư. Vì vậy, ROA thường được các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều hơn trong các phương pháp đo lường dựa trên kế toán.