Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu Nghiên cứu về người Mường ở Bình Dương là ý tưởng xuất phát từ một số khái niệm, lý thuyết và luận điểm đã được công bố trong các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước về cộng đồng, cộng đồng tộc người, tộc người thiểu số, văn hóa, văn hóa tộc người, văn hóa của các tộc người và sinh kế, sinh kế bền vững. Một số khái niệm về cộng đồng, cộng đồng tộc người * Cộng đồng “Cộng đồng” (community) là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong khoa học xã hội.
Theo Wikipedia, cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung. Trong cộng đồng người đó là kế hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng [87]. Nhà nghiên cứu Phạm Hồng Tùng đã đưa ra định nghĩa về cộng đồng “Cộng đồng là tập hợp người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ có các thành viên của cộng đồng” (Phạm Hồng Tùng, 2009, tr. Như vậy, dựa vào các cách tiếp cận mà hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung giới nghiên cứu xã hội đều cho rằng “cộng đồng” trước hết là những nhóm xã hội của con người có những tương tác với nhau và cùng chia sẻ những cái chung nào đó, có thể là địa bàn cư trú, những giá trị chung, quy tắc ứng xử chung… tạo nên sự gắn kết xã hội.
Một cộng đồng phải đáp ứng các đặc điểm sau: - Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người. - Một cộng đồng phải có một bản sắc/ bản thể riêng - Các thành viên trong cộng đồng phải tự cảm thấy có sự gắn kết với cộng đồng và với thành viên khác của cộng đồng. 13 - Có thể có rất nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết cộng đồng nhưng quan trọng nhất chính là sự thống nhất về ý chí và chia sẻ về tình cảm, tạo nên ý thức cộng đồng. Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng và có - những quy tắc chế định hoạt động và ứng xử chung của cộng đồng.
Từ những nội hàm trên, Phạm Hồng Tùng đưa ra khái niện về cộng đồng tộc người: “cộng đồng tộc người là những tộc người có chung bản sắc văn hóa do có chung nguồn gốc sắc tộc, ngôn ngữ, y phục và tương đồng về phong tục, tập quán” (Phạm Hồng Tùng, 2009, tr. * Tộc người Theo Đặng Nghiêm Vạn trong công trình Dân tộc học đại cương, tác giả đã định nghĩa “Tộc người (ethnie) là một cộng đồng mang tính tộc người có chung một tên gọi, một ngôn ngữ được liên kết nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa, tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những ký ức lịch sử (truyền thuyết lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ). Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế” (Đặng Nghiêm Vạn, 1998, tr. * Tộc người thiểu số “Tộc người thiểu số” hay “DTTS” là một thuật ngữ dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít (Khoa Nhân học, 2008, tr.
Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “DTTS” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”. Trên thực tế, khái niệm “DTTS” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc, khái niệm “tộc người thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các tộc người. Địa vị, trình độ phát triển của các tộc người không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà do những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi tộc người3. 3 Trần Hạnh Minh Phương (2019, Người Khmer ở Bình Dương, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, nghiệm thu năm 2019 14 1.
Một số khái niệm về văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa của tộc người * Văn hóa Hiện nay, trên thế giới cũng như Việt Nam có hàng trăm định nghĩa khoa học về văn hóa từ nghĩa rộng đến nghĩa hẹp. Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi xin đề cập tới một số định nghĩa mà các nhà dân tộc học, nhân học thường sử dụng. Định nghĩa của E.Tylor về văn hóa: “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng của dân tộc học là tổng hòa của tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục và tất thảy những năng lực khác nhau và những tập quán khác nhau mà con người chiếm lĩnh được với tư cách là thành viên của xã hội” (E. Malinowski định nghĩa “Văn hóa bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị”4, hay L.White cho rằng “Văn hóa là cơ chế của các hiện tượng, sự vật, hành động, tư tưởng, cảm xúc.
Cơ chế này được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu trưng hoặc phụ thuộc vào biểu trưng đó.” (Bùi Quang Thắng, 2008, tr. Đối với các nhà nghiên cứu văn hóa, định nghĩa “văn hóa chỉ định toàn thể những sản phẩm mang tính biểu tượng do một xã hội sản xuất” (Bùi Quang Thắng, 2008, tr. Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam và nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1914, “văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm: nghệ thuật, văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng” (Khoa Nhân học, 2008, tr.
* Văn hóa tộc người Ngô Đức Thịnh trong công trình Văn hóa – Văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam đã định nghĩa văn hóa tộc người “Là tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và lễ nghi… khiến người ta phân biệt tộc người này với tộc người khác, văn hóa tộc 4 Dẫn theo Bùi Quang Thắng (chủ biên) (2008), 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 15 người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tộc người” (Ngô Đức Thịnh, 2006, tr. * Văn hóa của tộc người Văn của của tộc người được định nghĩa “Là tổng thể những hiện tượng văn hóa trong diện mạo hiện tại của tộc người đó, không kể các yếu tố văn hóa đó có sắc thái tộc người hay trung tính về tộc thuộc” (Ngô Đức Thịnh, 2006, tr. * Giao lưu, tiếp biến văn hóa Giao lưu, tiếp biến văn hóa (Acculturation) là khái niệm do các nhà nhân học Anglo – Saxon đưa ra vào cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp hay lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và hậu quả của cuộc tiếp xúc này là sự thay đổi hoặc biến đổi của một số loại hình văn hóa hoặc cả hai nền văn hóa đó (Khoa Nhân học, 2008, tr.
Theo các nhà nhân học Mỹ, giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy (Khoa Nhân học, 2008, tr. Tác giả Huỳnh Ngọc Thu cho rằng giao lưu tiếp biến văn hóa là kết quả biểu hiện sự biến đổi bộ phận văn hóa của tộc người (yếu hơn các tộc người khác về mặt dân số, kinh tế, chính trị, …) trong xã hội đa tộc người. Sự biến đổi này là do các cá nhân trong tộc người tham gia vào các vị trí xã hội của nền văn hóa khác (có vai trò chi phối xã hội), như cùng sống chung trong một khu vực, cùng tham gia vào các hoạt động giáo dục, kinh tế, chính trị… và rồi bản thân của cá nhân tự thay đổi cho phù hợp với văn hóa mới. Sau khi phân tích các lý thuyết đã đưa ra kết luận các nhân tố dẫn đến giao lưu tiếp biến văn hóa: - Các dân tộc với nền văn hóa khác nhau cùng sống chung trong một khu vực có sự tương đồng về mặt địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị… - Các tộc người cùng tham gia vào một thể chế chính trị, một hệ thống giáo dục - Hoặc các tộc người tiếp nhận một tôn giáo mới thông qua cơ chế truyền đạo nên văn hóa của họ cũng bị biến đổi.
(Huỳnh Ngọc Thu, 2011, tr. Một số lý thuyết tổng quát về hướng tiếp cận kinh tế - văn hóa – xã hội tộc người * Lý thuyết sinh thái văn hóa Bên cạnh đó để nghiên cứu về văn hóa và những biến đổi của nó chúng tôi sử dụng lý thuyết “Sinh thái học văn hóa” của J. Thuyết sinh thái học văn hóa nhấn mạnh đến tầm quan trọng của môi trường trong sự biến đổi mang tính tiến hóa của văn hóa. Lý thuyết này lý giải sự giống nhau giữa các nền văn hóa ở những khu vực khác nhau là do có môi trường và phương pháp khai thác môi trường giống nhau và những biến đổi văn hóa là kết quả của quá trình thích ứng của các nền văn hóa với môi trường sinh thái địa phương (Stanley Barett, 2009, tr.
Như vậy, vai trò chi phối của môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái địa phương là điều kiện sinh sống tất yếu và thường xuyên của con người, bao gồm địa lý tự nhiên, của cải và nguồn năng lượng trong thiên nhiên tạo ra điều kiện thuận lợi hay gây ra khó khăn đối với các hoạt động sống của con người trong quá trình hình thành và phát triển. Vai trò của yếu tố tự nhiên đối với văn hóa thể hiện ở các mặt cơ bản như: - Nền tảng hình thành văn hóa đảm bảo đời sống xã hội: hoạt động sản xuất, ăn, ở, mặc, … - Nền tảng hình thành văn hóa tổ chức đời sống xã hội: hình thức quản lý, các mối quan hệ xã hội, .