Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến tư duy và tư duy phản biện Nguyễn Thanh Tân (2004), “Sự hình thành tư duy và một số đặc trưng của nó” [106], cho rằng: “tư duy là hệ tri thức hoạt động sản sinh ra tri thức mới” [106, tr. Đồng thời, tác giả đã khái quát một số đặc trưng cơ bản của tư duy: (i) tư duy là dạng hoạt động tri thức diễn ra trong ý thức con người, có nguồn gốc thực tiễn; (ii) tư duy là một dạng nhận thức nảy sinh khi có những hệ thống tri thức làm tiền đề; (iii) tư duy con người đòi hỏi một bộ máy công cụ và phương tiện nhất định; (iv) tư duy xuất hiện trong những tình huống vấn đề và nó luôn có đối tượng nhất định; (v) tư duy là một chức năng của não người và với tư cách này, nó là một quá trình tự nhiên, nhưng tư duy không tồn tại bên ngoài xã hội, khối kiến thức và các phương thức hoạt động mà loài người đã sáng tạo ra và tích luỹ được.
Theo đó, tác giả tiếp cận mỗi quá trình tư duy với hai chiều cơ bản. Đó là quá trình bao gồm các hành động và thao tác trí óc nhằm thâm nhập vào đối tượng bằng cách sử dụng các công cụ, phương tiện nhận thức để sản sinh ra những tri thức mới, đáp ứng yêu cầu giải quyết các vấn đề thực tiễn và nhận thức mà con người đang hướng tới. Và quá trình thông qua việc sử dụng các công cụ, phương tiện nhận thức để củng cố, hệ thống hoá và duy trì khối tri thức mà con người đã có. Hai chiều trên có mối quan hệ biện chứng, diễn ra đồng thời và thống nhất với nhau trong mỗi quá trình tư duy nhất định.
Nhưng chúng cũng có tác dụng khác nhau: chiều thứ nhất bảo đảm sự phát triển và biến đổi của tư duy; chiều thứ hai bảo đảm tính xác định cho các quá trình tư duy, cho phép nó tạm thời chấm dứt để có thể được khách quan hoá và hiện thực hóa. Đây là một công trình có sự nghiên cứu khá sâu sắc về tư duy, giúp nghiên cứu sinh bổ sung, làm rõ khung lý thuyết của luận án. 10 Nguyễn Mạnh Cương (2004), “Về bản chất của tư duy” [ 15]; Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Lê, Châu An (2004), Khơi dậy tiềm năng sáng tạo [121]; Vũ Văn Viên (2006), “Tư duy lôgíc bộ phận hợp thành của tư duy khoa học” [133]; Lê Hải Yến (2008), “Dạy và học cách tư duy” [136] đã luận bàn, phân tích mối quan hệ và phân biệt sự khác nhau giữa tư duy chính xác (tư duy lôgíc) và tư duy biện chứng; tư duy lôgíc và tư duy khoa học; TDPB, tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề. Theo đó, tư duy chính xác là một bộ phận của tư duy biện chứng mác xít, phản ánh trạng thái xác định của sự vật, hiện tượng trong “tính đồng nhất trừu tượng” của chúng [15, tr.
Tư duy khoa học, về thực chất, là “sự thống nhất giữa tư duy biện chứng và tư duy lôgíc; trong đó, tư duy biện chứng là phương pháp luận chỉ đạo, còn tư duy lôgíc là tổng hợp các thao tác lôgíc” [133, tr. Trong các thành phần cơ bản nhất tạo nên cơ cấu của tư duy khoa học phải bao gồm một bộ phận thiết yếu là phương pháp tư duy lôgíc. Bên cạnh đó, tư duy sáng tạo hay tư duy khám phá là loại tư duy mở, có quan hệ chặt chẽ với TDPB hay tư duy lập luận lôgíc trong tìm kiếm giải pháp giải quyết vấn đề sáng tạo [136, tr. Các công trình trên có ý nghĩa rất lớn đối với nghiên cứu sinh khi nghiên cứu mối quan hệ giữa TDPB với các loại hình tư duy khác trong luận án.
Nguyễn Cảnh Toàn, Tô Duy Hợp, Trần Việt Dũng (2016), Khoa học tư duy từ nhiều tiếp cận khác nhau [122] đưa ra định nghĩa về tư duy: “là một quá trình tinh thần gồm những thao tác, cách thức liên kết, biến đổi dữ kiện tinh thần của bộ não nhằm hình thành ý tưởng, lời giải của vấn đề đặt ra” [122, tr. Định nghĩa này xem xét tư duy dưới góc độ hệ thống, bao gồm các bộ phận cấu thành: vấn đề của tư duy, dữ liệu của tư duy, bộ máy của tư duy và kết quả của tư duy. Trong đó, khẳng định bất kỳ tư duy nào cũng là tư duy giải quyết vấn đề, dữ liệu tư duy là những dữ kiện tinh thần mà tư duy có thể huy động, khai thác để hình thành ý tưởng, lời giải của vấn đề, bộ máy tư duy là những thao tác, cách thức liên kết, biến đổi các dữ kiện tinh thần đó, kết quả tư duy là ý tưởng, lời giải của vấn đề đặt ra. 11 Stella Cottrell (2008), Kỹ năng tư duy phê phán [14] giúp người đọc hiểu thế nào là TDPB và xây dựng các kỹ năng TDPB.
Tác giả cho rằng: “Tư duy phê phán là một hoạt động nhận thức gắn liền với việc sử dụng trí óc. Học cách tư duy có phân tích phê phán và đánh giá nghĩa là học sử dụng các chức năng của bộ não như chức năng tập trung, phân loại, lựa chọn và đánh giá” [14, tr. Trong cuốn sách, tác giả phân tích các kỹ năng và thái độ gắn liền với TDPB như: nhận biết lập trường, luận cứ và kết luận của người khác; đánh giá dẫn chứng của những quan điểm khác; so sánh giữa các luận cứ và dẫn chứng đối lập một cách công bằng; có thể đoán ý ngoài lời, xem xét những nội dung ẩn giấu bên trong luận cứ và nhận ra các giả định sai; nhận biết các kỹ năng gian lận được sử dụng để làm cho một số lập trường có vẻ thuyết phục hơn những lập trường khác, chẳng hạn như sử dụng một suy luận lôgíc hoặc một công cụ thuyết phục sai; tái hiện lại vấn đề theo một cấu trúc hợp lý, để nhìn rõ lôgíc và nội hàm của nó; rút ra kết luận về việc luận cứ có đúng đắn, hợp lý, có dựa trên các dẫn chứng vững chắc và các giả định phù hợp hay không; trình bày một quan điểm theo một cấu trúc rõ ràng, hợp lý để thuyết phục người khác. Đặc biệt, tác giả đã trình bày những rào cản (hiểu sai ý nghĩa của phê phán, thiếu phương pháp và chiến lược, thiếu thực hành, ngại phê phán các chuyên gia, các lý lẽ mang tính cảm xúc, nhầm lẫn giữa thông tin và hiểu biết, thiếu sự tập trung và chú ý cần thiết vào chi tiết) [14, tr.
23] có thể khiến người học gặp khó khăn trong phát triển kỹ năng TDPB, đồng thời cung cấp những phương thức giúp họ vượt qua những rào cản đó. Tác giả chủ yếu tập trung phân tích những khía cạnh có thể áp dụng TDPB trong công việc và học tập, giúp người học tìm hiểu khả năng tư duy của bản thân. Qua đó, hình thành ở họ những kỹ năng TDPB cơ bản như: xác định và xây dựng các luận cứ, đọc, viết, phân tích sâu các ý kiến, quan điểm và lập luận của người khác, trình bày phản biện quan điểm của người khác một cách hiểu biết và phù hợp. Russell Brooker (2012), “Về khái niệm tư duy phản biện” [11], quan niệm TDPB là một quá trình chất vấn các giả định hay giả thiết để khẳng định một nhận định nào đó là đúng hoặc sai, đôi khi là đúng hoặc chỉ có phần đúng.
Đồng 12 thời, nhấn mạnh tầm quan trọng lớn lao của TDPB trong học tập và khái quát các kỹ năng cốt lõi của TDPB (quan sát, diễn giải, phân tích, suy luận, đánh giá, giải thích và tri nhận tổng hợp). Trên cơ sở đó, tác giả quan niệm về TDPB thể hiện ở khả năng vận dụng không chỉ tri thức lôgíc học, mà còn những tiêu chí trí tuệ khác như sự rõ ràng, đáng tin cậy, sự xác đáng, sự sâu sắc, tính thiết thực, chiều sâu và tầm rộng, cũng như sự quan yếu và tính công bằng. Theo tác giả, điều quan trọng là người dạy phải biết “vun đắp” TDPB cho người học bằng cách đưa ra những câu hỏi kích thích tư duy, kiến tạo tri thức. John Dewey (2013), Cách ta nghĩ [16] đã trình bày những vấn đề căn bản về tư duy, đưa ra khái niệm TDPB và những thành tố của TDPB.
John Dewey đã dùng thuật ngữ tư duy sâu sắc hay tư duy phản tư, phản thân (reflective thinking) để gọi TDPB lúc bấy giờ. Đồng thời, định nghĩa TDPB là sự “suy tính đắn đo, tích cực, bền bỉ, và cẩn trọng đối với bất cứ niềm tin hoặc hình thức nào của tri thức dưới sự soi tỏ của những căn cứ nâng đỡ nó, và những kết luận mà nó có xu hướng giải phóng” [16, tr. 17]; “là sự phản biện, tranh luận, một thái độ hoài nghi lành mạnh về những tri thức, kết luận có sẵn nhằm tìm kiếm một phương thức đi tìm những dữ liệu mới để rút ra kết luận” [19, tr. 36], theo đó, nhấn mạnh đến tính chủ động và tính liên tục của TDPB.
TDPB được hiểu như khả năng trí tuệ và cảm xúc của chủ thể mang tính hệ thống, lôgíc, chặt chẽ. Theo ông, những thành tố cơ sở của TDPB bao gồm sự “duy trì trạng thái hoài nghi và liên tục tra vấn một cách hệ thống” [19, tr. Richard Paul và Linda Elder (2015), Cẩm nang tư duy phản biện - Khái niệm và công cụ [87] đã trình bày những quan niệm rất cụ thể về TDPB. Họ tập trung cung cấp những lý thuyết về đặc trưng trí tuệ cơ bản, các cấp độ tư duy, phân tích bản chất và khái niệm TDPB, những giai đoạn phát triển của TDPB và những kỹ năng TDPB được áp dụng cho việc nhận thức và giải quyết mọi vấn đề.
Các tác giả đã đưa ra định nghĩa: “Tư duy phản biện là nghệ thuật phân tích và đánh giá tư duy với định hướng cải thiện nó”; “là tư duy tự định hướng, tự giác, tự giám sát và tự hiệu chỉnh” [87, tr.