CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Nghiên cứu định tính. Nghiên cứu định lượng.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ FINTECH. Những vấn đề cơ bản về Fintech. Các nghiên cứu thực nghiệm. MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU.
26 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU. Phương pháp nghiên cứu.
Quy trình nghiên cứu. Chọn mẫu nghiên cứu. XÂY DỰNG THANG ĐO. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ THÔNG TIN.
42 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. THỐNG KẾ MÔ TẢ. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO.
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA .5 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. 54 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ FINTECH CỦA SINH VIÊN .2 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VÀ KHUYẾN NGHỊ .1 Thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro, đảm bảo an toàn tăng sự tin tưởng của sinh viên khi sử dụng các dịch vụ Fintech gắn với công nghệ hiện đại .2 Tăng cường công tác thông tin, truyền thông đến sinh viên .3 Phát triển những sản phẩm, các dịch vụ phù hợp cho sinh viên khu vực khu vực tỉnh Bình Dương .3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO. 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
70 PHỤ LỤC 1 PHIẾU KHẢO SÁT CHUYÊN GIA. 72 PHỤ LỤC 2 PHIẾU CÂU HỎI SƠ BỘ. 76 PHỤ LỤC 3 PHIẾU CÂU HỎI CHÍNH THỨC. 83 PHỤ LỤC 4 KẾT QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ.
GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Fintech, một từ ghép của ‘“Financial” (tài chính) và “Technology” (công nghệ), được gọi là ‘công nghệ tài chính’, là sự kết hợp của sáng tạo mô hình kinh doanh và giải pháp công nghệ trong việc hỗ trợ các dịch vụ tài chính hàng ngày (Arner, Barberis và Buckley, 2015). Fintech đã mang lại những thay đổi to lớn trong nền kinh tế kỹ thuật số, đặc biệt là ở Ấn Độ, Vương quốc Anh và Trung Quốc (Chua et al., 2019; Cham et al., 2018; Kim et al. Cụm từ “Fintech” ban đầu chỉ được dùng để nói về một số khía cạnh kỹ thuật hoặc công nghệ máy tính mà một Fintech hoặc tổ chức tài chính áp dụng trong quá trình cung cấp dịch vụ của mình (Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam, 2018).
Kể từ cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, công nghệ tài chính đã được áp dụng để số hóa các lĩnh vực sau: thanh toán (tiền điện tử, thanh toán di động, thanh toán bằng mã QR, v.); tiết kiệm; đầu tư và quản lý tài sản; blockchain và các ứng dụng liên quan; tín dụng, cho vay ngang hàng; bảo hiểm; phân tích dữ liệu (Stewart & Jürjens, 2018; Wonglimpiyarat, 2017; Datta, 2011; Donner & Tellez, 2008). Fintech ra đời là một trong những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của ngành tài chính thế giới trong đó có Việt Nam. Việc vận dụng công nghệ thông tin đã giúp các tổ chức cung cấp dịch vụ Fintech tại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh với các đối thủ trên toàn thế giới. Dịch vụ công nghệ tài chính là việc khách hàng sẽ sử dụng điện thoại di động hoặc bất kỳ thiết bị nào có kết nối internet để thực hiện các giao dịch thanh toán (Barnes và Cobitt, 2003; Scomavacca và Barnes, 2004).
Ngày nay, các thiết bị này được trang bị internet ngày một gia tăng (Laukkanen và Lauronen, 2005)và trong những năm gần đây, Fintech đã trở thành xu hướng lớn trên thế giới và tại Việt Nam khi thị trường tài chính Fintech chứng kiến sự tăng trưởng ổn định của các công ty công nghệ phi Fintech. Sau đó, Fintech cũng đề cập đến hoạt động của các công ty công nghệ có lợi thế trong việc tìm kiếm lại và phát triển các giải pháp phần mềm để hỗ trợ hoặc cung cấp trực tiếp các dịch vụ Fintech thay thế với ưu tiên về tính tiện lợi, tốc độ với chi phí thấp (Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam, 2018; Romānova & Kudinska, 2016). Với dân số lên tới 97,4 triệu người trong đó số người từ 18 đến 60 tuổi chiếm tỷ lệ 70% (Tổng cục thống kê dân số 2016), vì vậy Việt Nam là thị trường tiềm năng cho sự phát triển của Fintech. Ngoài ra, tỷ lệ người dùng điện thoại thông minh ở các thành phố lớn là 84% và con số này ở khu vực tỉnh Bình Dương là 68% (Neilsen, 2017).
Tiềm năng phát triển của Fintech tại Việt Nam được dự báo sẽ bùng nổ trong thời gian tới. Theo Solidiance (2018), thị trường Fintech Việt Nam đạt 4,4 tỷ USD vào năm 2017 và dự kiến đạt 7,8 tỷ USD vào năm 2020. Trong đó, tính đến cuối năm 2017, 89% công ty 11 Fintech tại Việt Nam đã hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thanh toán cụ thể là Momo, Moca, Samsung Pay, Onepay, Zalopay, Baokim.vn, 123pay, Senpay, Bankplus, Nganluong.vn… Theo báo VNETWORK, tính đến năm 2019 có 64 triệu người dùng internet tại Việt Nam 2019, thì số lượng người dùng truy cập bằng thiết bị di động là 61.73 triệu người (chiếm 96% số người sử dụng internet). Báo cáo nghiên cứu thị trường của IDC chỉ ra rằng, Việt Nam thuộc top 3 quốc gia đứng đầu Đông Nam Á về tiêu thụ điện thoại thông minh, cụ thể số thuê bao sử dụng smartphone là 60% năm 2017.
Đến 2021 số thuê bao smartphone của Việt Nam sẽ tăng gấp 3 lần so với năm 2017. Do vậy xu hướng sử dụng dịch vụ tài chính là một tất yếu. Lợi ích của việc cung cấp dịch vụ công nghệ tài chính đối với Fintech là tăng thêm thu nhập cho Fintech. Người dân được khuyến khích gửi tiền vào tài khoản Fintech, từ đó dễ dàng kết nối với các cá nhân, tổ chức khác để thực hiện các hoạt động thanh toán và hưởng các ưu đãi.
Đối với sinh viên thì dịch vụ công nghệ tài chính Fintech mang đến nhiều tiện ích như: đáp ứng 24/24 giờ, tiết kiệm thời gian và chi phí, được hưởng nhiều chương trình khuyến mãi… Sự tiện lợi của điện thoại di động đối với dịch vụ Fintech bán lẻ được thể hiện thông qua “thời gian, nâng cao chất lượng giao dịch và tăng lòng trung thành của họ đối với tổ chức tài chính - dịch vụ”. Fintech ra đời góp phần giúp các tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính giảm chi phí và tăng hiệu quả cung cấp dịch vụ cho khách hàng nói chung và sinh viên nói riêng đang sử dụng dịch vụ này. Theo Meyer (2007 và Ondiege (2010), thiết bị kỹ thuật số cầm tay (PDA) và điện thoại thông minh là cầu nối giúp Fintech tiếp cận và cung cấp sản phẩm dịch vụ cho sinh viên mọi lúc, mọi nơi với tỷ lệ thâm nhập cao và tiềm năng phát triển lớn. Với công nghệ di động, các tổ chức cung cấp dịch vụ Fintech đa dạng dịch vụ cho sinh viên như thanh toán chuyển khoản trong khi đi du lịch, mua sắm thanh toán online, cập nhật giá cổ phiếu thông qua các ứng dụng trực tuyến,….
Fintech trở thành một xu hướng nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Theo các nghiên cứu trước thì có khá nhiều nhân tố khác nhau tác động đến ý định sử dụng dịch vụ và sử dụng các công nghệ tài chính. Theo Luarn và Lin, 2005; Amin và cộng sự, 2008; Yang, 2009; Cruz, 2010; Yu, 2012, thì các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính về rủi ro, chi phí giao dịch, sự dễ dàng sử dụng và độ tin cậy thì đã được các nghiên cứu trước nhắc đến. Tuy nhiên, có những nghiên cứu khác chỉ ra các yếu tố khác ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ Fintech, chẳng hạn như nhận thức về lợi thế của dịch vụ (Brown và cộng sự, 2003).
Khả năng tương thích và sự tự tin của học sinh (Lee và cộng sự, 2003). Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhận thức rủi ro, chi phí và tính dễ sử dụng (Suoranta và cộng sự, 2005; 12 Koening-Lewis và cộng sự, 2010); sự tin tưởng (Alam, 2014) không ảnh hưởng đến ý định sử dụng các dịch vụ công nghệ tài chính. Nghiên cứu cho thấy trong các tình huống khác nhau, các yếu tố ảnh hưởng cũng khác nhau. Mặt khác, các biến nhân khẩu học chính được coi là các biến kiểm soát, chứ không phải là các biến điều chỉnh từng nhân tố của ý định sử dụng.
TAM là một trong những lý thuyết về mô hình kỹ thuật được công nhận, chủ yếu dựa trên TAM, TPB, IDT và các lý thuyết cơ bản khác để nghiên cứu. Các lý thuyết này đã được Venkatesh và cộng sự (2013) chỉ ra, ví dụ, không xem xét các yếu tố ảnh hưởng xã hội, mỗi lý thuyết xem xét các yếu tố tiềm ẩn là khác nhau. Ví dụ, Lý thuyết Hành vi Kỳ vọng (TPB) bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính: thái độ, tiêu chuẩn chủ quan và sự kiểm soát của hành vi nhận thức. Mô hình áp dụng công nghệ (TAM) được phát triển dựa trên lý thuyết TRA và TP, cho thấy ý định sử dụng công nghệ mới sẽ thúc đẩy hành vi mua sắm của sinh viên.
Fred Davis (Fred Davis, 1989) tin rằng có hai yếu tố quyết định ảnh hưởng đến thái độ của mọi người đối với việc sử dụng công nghệ: nhận thức về tính khả dụng và nhận thức về tính dễ sử dụng. Mặt khác, các lý thuyết trước đây chưa xem xét tác động của biến điều tiết đến ý định và hành vi sử dụng các sản phẩm của dịch vụ Fintech thông qua từng nhân tố ảnh hưởng. Nghiên cứu này kế thừa và phát triển lý thuyết thống nhất về việc chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT2 theo độ tuổi và giới tính, có tác động điều tiết đến mức độ sẵn sàng sử dụng dịch vụ Fintech của mỗi sinh viên tại Việt Nam. Sử dụng lý thuyết này ở các quốc gia / khu vực khác để nghiên cứu tác động của các nhân tố đến việc áp dụng và sử dụng các sản phẩm công nghệ tài chính, nhưng trong điều kiện các quốc gia / khu vực khác nhau, trình độ phát triển kinh tế khác nhau, văn hóa khác nhau cho thấy kết quả nghiên cứu khác nhau, vì vậy nghiên cứu Kết quả có thể Nó không liên quan gì đến nền Việt Nam.
Lĩnh vực nghiên cứu dịch vụ công nghệ tài chính Fintech là một lĩnh vực mới nổi tại Việt Nam.