Chương 1. Trong chương này, chúng tôi đưa ra tong quan về nguyên tử siêu lạnh, một số phương pháp giải tích va cơ sở lý thuyết về các tính chất dừng của hệ khí lượng tử ít hạt một chiều. Phương pháp tính toán. Chúng tôi trình bày tông quan về phương pháp tính toán và cách thức thực hiện.
Kết quả nghiên cứu. Chúng tôi phân tích các tính chất dừng của hệ khí lượng tử it hạt có tương tác trong các bay thé năng khác nhau ở 7 =0K. Kết luận và hướng phát triển. Nguyên tử siêu lạnh Năm 1925, Einstein mở rộng những nghiên cứu thống kê về photon của Bose cho các nguyên tử có spin nguyên, boson, và đưa ra những dự đoán trên lý thuyết về sự tôn tại của trạng thái hoàn toàn mới của hệ khí boson không tương tác tại nhiệt độ siêu thấp, hiện nay được gọi là hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein (BEC) [29].
Hiện tượng BEC mô tả hệ các hạt boson có thê phân bố với số lượng lớn vĩ mô tại trạng thái lượng tử với mức năng lượng thấp nhất tại cùng nhiệt độ siêu thấp. Sau nhiều nỗ lực, năm 1995, Anderson thành công quan sat hiện tượng ngưng tụ BEC trong hệ 2000 nguyên tử *’Rb ở nhiệt độ dưới 170 nK [5]. Từ đó, nghiên cứu về nhóm Bose và Fermi cực lạnh đã trở thành một trong những lĩnh vực nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà vật lý lý thuyết vả thực nghiệm. Ở vùng nhiệt độ siêu thấp, các tính chất lượng tử trở nên quan trọng va thé hiện rõ rang.
Bên cạnh hiện tượng BEC, nhiều hiệu ứng lượng tử khác của hệ nguyên tử siêu lạnh cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học như: chuyên pha lượng tử, pha boson siêu long, pha siêu rắn, spin động lực học nhiều hat, hiện tượng siêu lỏng Bardeen-Cooper-Schrieffer (BCS) va sự giao thoa BEC-BCS [29]-[31]. Mink họa nguyên tứ trong mạng tinh thé quang học [32]. Mang tinh thé quang học (optical lattice - OL) được tạo thành từ sự giao thoa của hai tia laser kết hợp [32], là công cụ hiệu quả giúp các nhà vật lý thực nghiệm nghiên cứu tính chất dừng va động lực học của các hệ nguyên tử siêu lạnh (được minh họa ở Hình 1. Vi dụ, Kinoshita và các cộng sự đã sử dụng mạng tinh thẻ quang học đẻ bẫy các nguyên tử *’Rb và quan sát sự hình thành của khí Tonks-Girardeau (TG) và động lực của khí TG trong bẫy điều hòa [18].
Trong mạng tính thể quang học, các nguyên tử siêu lạnh có thé bị giam giữ trong một thời gian đủ dai tại các cực tiêu của của mạng tinh thé dé các phép đo có thé được thực hiện. Một trong những kết quả thực nghiệm quan trọng vẻ hệ nguyên tử siêu lạnh trong mạng tỉnh thê quang học đó là sự phát quang của từng nguyên tử bị giam giữ trong mạng tinh thẻ quang học hai chiều [33]-[34]. Ngoài ra, bang cách sử dụng mạng tinh thé quang học, các nha vật lý có thé tạo ra các hệ ít hạt với số lượng cụ thê và có thê điều khiên các quá trình tương tác giữa các hạt một cách chính xác trong thực nghiệm. Cụ thé, năm 2011, Serwane và cộng sự thành công trong việc tạo ra một hệ khí lượng tử ít hạt (1 ~ 10 hạt) có thé kiểm soát hoàn toàn trạng thái lượng tử bằng cách sử dụng các fermion cực lạnh trong bay quang học lưỡng cực [35].
Trong công trình nảy, chúng tôi tập trung nghiên cứu hệ khí lượng tử siêu lạnh ít hạt trong không gian một chiều bị giam giữ trong giếng thế quang học. Kết quả thu được các tính chất đừng của hệ khí được trình bay chi tiết trong Chương 3. Mô hình vật lý Trong công trình này, chúng tôi khảo sát mô hình khí lượng tử siêu lạnh một chiều gôm N hạt tương tác gần (short-range interactions) với thé tương tác được biểu diễn dưới dang hàm delta [36]. Hamilton của hệ được mô tả như sau F(X), %5--%y) = S¬ x+V„„(x„f) |+ #3 ,ð(x.1) N he # N ` ( i<j} Số hạng đầu tiên mô ta động năng va thé năng của một hạt có khối lượng m,.
Tông quát, ham thé V_, có dạng phụ thuộc vào tọa độ không gian và thời gian. Số hạng thứ hai biêu diễn tương tác giữa hai hạt với cường độ tương tác (coupling strength) g. Cường độ tương tác đương ø >0 tương ứng với tương tác day, và cường độ tương tác âm g <0 ứng với tương tác hút. Cường độ tương tác có thé được thay đôi từ yếu đến mạnh và từ tương tác hút hay đây trong thực nghiệm bằng phương pháp cộng hưởng Feshbach [37] hoặc hiệu chỉnh tan số bay theo phương vuông góc [38].
Trong dé tài này, chúng tôi chi quan tâm đến thé tương tác day giữa các boson. Trong trường hợp số hạt rat lớn và cường độ tương tác nhỏ, gan đúng trường trung bình có thé được sử dụng dé mô tả mô hình đã cho thông qua việc giải phương trình Gross-Pitaevski (GP) [39]-[40], là một dang phương trình Schrödinger phi tuyến. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp đặc biệt, chúng ta có thé thu được lời giải tích chính xác của hàm sóng va trị riêng năng lượng từ biểu thức của Hamiltonian trong phương trình (1. Sau đây, chúng tôi trình bay về hai bài toán thuộc các trường hợp riêng có lời giải giải tích và phương trình GP.
Trường hợp 1: Bài toán Lieb-Liniger Bài toán Lieb-Liniger (LL) là hệ N boson tương tác day một chiều trong thé năng hộp V_ =0 với điều kiện biên tuần hoàn hay còn gọi là thé năng vòng tròn (ring). Phương trinh Schrödinger của bài toán LL được xác định [41] lš(-)+È6 =X, ))v=ee.3) Xét miền R:O0S x, <L (L là độ rộng của hộp thé), ham sóng thỏa mãn điều kiện biên tuần hoàn với mọi giá trị của x,. hàm thé năng ở dẫn tới điều kiện biên [41] (2 Ox, las, (2 Ox, = 6 ô ====—= lees, § |. 6 le w 6 ô " “ÌEE“= | ees.4 ) Điều này đảm bảo tính liên tục của hàm sóng khi hai phần tử ở cùng một vị trí nhưng có một bước nhảy của g trong đạo hàm.
Từ các phương trình (1.6) Ox,,, ÔN, a als? A XEN Lúc này, phương trình (1.3) tương đương phương trình (1.5) kèm theo điều kiện biên (1.6) được giới hạn trong miền R:0SxS=. Nếu hàm sóng xác định trong miền R, thì nó cũng xác định trong miễn RK. Điều này dan tới hai điều kiện biên trong miền R, [41] Y (0) Xp »-+-s Xp) = P(X s---sXy LE); (1.8) Lieb và Liniger đã sử đụng ham thử Bethe để xác định ham sóng W dưới dang tông tắt cả các hoán vị của một tập hợp các vector sóng {k} =&,,k;.9) , jot trong đó vector sóng &, thỏa man phương trình ye N hk ~ B= om” yal =m (1.10) và a(P) là một ham của hoán vị P. Dang ham chỉ tiết của a(P) được thảo luận chỉ tiết trong công trình cua Lieb và Liniger [41].
Trường hợp 2: Bài toán Tonks-Girardeau Năm 1960, Girardeau công bỗ kết quả về mối liên hệ giữa N hat boson tương tác mạnh (g =>} và N hat fermion không tương tác, spin phân cực trong không gian một chiêu [27]. Kết quả này sau đó được biết với tên gọi định lý ánh xạ Bose-Fermi (Bose- Fermi mapping theorem) và được sử dụng trong nghiên cứu hệ boson tương tác mạnh trong không gian một chiều [42]-[43] và cũng như kiềm chứng độ tin cậy các kết quả giải số. Trong trường hợp cường độ tương tác đây giữa hai boson rất lớn (g >), các hạt boson không thé ở cùng một vị trí trong không gian một chiều. Do đó, Girardeau dé xuất thay thé thé năng tương tác giữa hai boson, gd (x—x:).
bằng điều kiện ràng buộc Vg(xi,x›.x„ là tọa độ không gian của các boson. Khi nay, các boson với tương tác rất mạnh thường được gọi là boson lõi cứng (hard-core boson). Với điều kiện ràng buộc (1.11), phương trình Schrédinger dừng cho hệ N boson tương tác mạnh tương đương các hat fermion không tương tác, spin phan cực s ii a mm 2m, Ox; 4V,, (x,ia (X i.12) Ham sóng của hệ N fermion không tương tac spin phân cực có thé được biểu diễn dưới dạng định thức Slater của N hàm sóng đơn hạt đ,(x,) ] Uy) W#(x. PAG) Ta biết rằng hàm sóng nhiều hat fermion không chứa spin có tính chat phản đối xứng theo tọa độ khi vị trí của hai fermion được thay đôi Wi (ges oreXi azssgZ pin | 8= ae eee eee TTX kh (1.14) trong khi đó hàm sóng nhiều hạt boson có tính chất đối xứng khi ta thay đôi vị trí của hai boson A a soaalx s:as y | J Hy ( a oXgarncet — `.15) Một cách tông quát, ham sóng của N boson tương tác mạnh được xác định từ ham sóng của N fermion không tương tác spin phan cực như sau be Coneeee eb gen [6 eee | (1.16) trong đó A là hàm phản đối xứng đơn vị có dang A(+x,x,.xv)= H „ Sa, —x,) isf<ysh (sgn(x,—x,) la hàm dau đại số của x đóng vai trò đảm bảo cho tinh chất đối xứng của hàm sóng nhiều boson).
Hàm sóng của trạng thái cơ bản của N boson tương tác mạnh được biêu diễn đơn giản theo ham song trang thái cơ bản của hệ N fermion không tương tác spin phan cực như sau va trị riêng của trạng thái cơ bản của N boson tương tác mạnh và hàm phân bố mật độ đơn hạt N-1 pPX)=YwOOP, (1.20) Trường hợp 3: Trường hợp tương tác yếu Pitaevskii (1961) [39] va Gross (1963) [40] đã độc lập nghiên cứu va dé đưa ra mô hình toán học mô tả hệ boson nhiều hạt tương tác yếu dựa trên lý thuyết trường trung bình. Ở nhiệt độ cực thấp, các boson có xu hướng cùng chiếm đóng một trạng thái cơ bản đơn hat. Do đó, ham sóng nhiều hạt của trạng thái cơ bản của hệ N boson tương tác yếu được xấp xi bằng tích số Hartree của hàm sóng đơn hạt g(x) như sau N W(x,.21) trong đó hàm sóng đơn hạt thỏa mãn phương trình sau -= = +V,„(x)+ #|e(x)Ï Jos) = p(x), (1.22) 2 A2? 3 trong đó ys được gọi là thế hóa học. Phương trình trên được gọi là phương trình Gross- Pitaevskii (GP) độc lập thời gian thường được giải bằng phương pháp lan truyền thời gian ảo hoặc phương pháp Newton phi tuyến liên tiếp.
Động lực học của hệ N boson được mô tả bởi phương trình GP phụ thuộc thời gian ih a .23) Về bản chất, phương trình GP là dang phi tuyến của phương trình Schrédinger, với thành phan phi tuyến gây ra bởi gần đúng trường trung bình.