Chương 1. Vật liệu spinel ferrite 1. Cấu trúc của vật liệu spinel ferrite Spinel ferrite là một hợp chất có công thức phân tử chung là MFe2O4, trong đó M là ion kim loại hóa trị II như Mg2+, Cu2+, Co2+, Ni2+, Mn2+, Fe2+, Zn2+, có cấu trúc 2 phân mạng là tứ diện (A-site), bát diện (B-site) của mạng tinh thể lập phương tâm diện (FCC), nhóm không gian Fd3m (Hình 1. Một đơn vị ô cơ sở của spinel ferrite (hằng số mạng a = b = c ~ 8,4 Ao) được hình thành bởi 32 nguyên tử O2- và 24 cation.
Trong đó có 8 cation ở vị trị tứ diện (A) và 16 cation ở vị trí bát diện (B) phối trí với các ion O2- [190]. Tùy thuộc vào sự phân bố của cation M2+ và Fe3+ trong mạng tinh thể, spinel được chia làm các dạng sau [92], [124] : - Spinel thường (normal spinel): Ion M2+ phân bố ở vị trí tứ diện (A Site) và ion Fe3+ phân bố ở vị trí bát diện (B site). Các spinel ferrite được viết dưới dạng (M2+)tet(Fe3+)2otcO42-. Ví dụ: ZnFe2O4,… Hình 1.
Cấu trúc tinh thể spinel ferrite. - Spinel đảo (inverse spinel): Ion M2+ phân bố ở vị trí bát diện (B site), ion Fe3+ phân bố ở cả vị trí tứ diện (A site) và vị trí bát diện (B site), được viết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 dưới dạng (M2+Fe3+)oct(Fe3+)tetO42-. Ví dụ: Fe3O4, NiFe2O4, CoFe2O4, MgFe2O4,… - Spinel hỗn hợp (mixed spinel): Ion M2+ và Fe3+ phân bố đồng thời ở cả vị trí tứ diện và vị trí bát diện, các spinel hỗn hợp được viết dưới dạng (M2+xFe3+1-x)tet(M2+1-xFe3+x)octO22-. Ví dụ: MnFe2O4,… Tham số x biểu thị mức độ đảo ngược của spinel.
Trong cấu trúc của spinel, các anion O2- được coi như quả cầu cố định và xếp chặt theo kiểu mạng lập phương sẽ tạo thành các khoảng trống tứ diện hoặc bát diện để các ion kim loại có thể phân bố. Tuy nhiên, các cation này cũng ảnh hưởng ngược lại với các anion O2- làm cho nó có thể di chuyển lệch các vị trí nút mạng ban đầu. Sự dịch chuyển này được đặc trưng bởi một tham số u (tham số oxy hoặc tham số anion). Khi giá trị u tăng, các anion O2- dịch chuyển theo cách tăng khoảng cách giữa vị trí tứ diện và anion O2- và khoảng cách giữa vị trí bát diện và anion O2- giảm.
Đối với các mạng anion lý tưởng xếp chặt, u = 3/8 nhưng trong thực tế thường hơi bị biến dạng nên giá trị u > 3/8 [196]. Bán kính của các vị trí tứ diện (vị trí A) và vị trí bát diện (vị trí B) được tính theo công thức sau [196]: 1 rA (u )a 3 RO (1.2) 8 Trong đó: rA, rB : Lần lượt là bán kính lỗ trống tứ diện và bát diện; Ro: Bán kính anion O2- (1,38Å); a: Hằng số mạng tinh thể. Ví dụ, đối với về hệ Zn1-xCoxFe2O4 [195], bán kính trung bình cation tại các vị trí tứ diện (rA) và bát diện (rB) được tính theo sự phân bố cation như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4) 2 Trong đó: C - Hàm lượng ion ở vị trí tứ diện và bát diện; r (ZnA2 ) , r (Fe3A ) , r (Co2A ) lần lượt là bán kính ion Zn2+ (0,60 Å), Fe3+ (0,49Å) và Co2+ (0,58 Å) ở vị trí tứ diện; r (Co2A ) , r (Fe3A ) lần lượt là bán kính ion Co2+ (0,745 Å) và Fe3+ (0,645Å) ở vị trí bát diện [195]. Có thể thấy rằng, rA giảm và rB tăng khi hàm lượng Co2+ tăng.
Điều này là do các ion Zn2+ (0,60 Å) có bán kính lớn hơn được thay thế bởi các ion Co2+ (0,58 Å) có bán kính nhỏ hơn. Một số ion Fe3+ (0,49Å) cũng di chuyển đến vị trí tứ diện do quá trình thay thế. Tuy nhiên, ở vị trí bát diện, các ion Fe3+ có bán kính nhỏ hơn được thay thế bởi các ion Co2+ có bán kính lớn hơn, do đó giá trị bán kính ở các vị trí bát diện sẽ tăng. Một số tính chất cơ bản của vật liệu spinel ferrite a) Tính chất từ: Tương tác từ trong spinel ferrite được thực hiện qua trung gian của các anion O2- và xảy ra giữa các spin của các cation kim loại nằm ở vị trí tứ diện và bát diện.
Được điều chỉnh bởi cơ chế siêu trao đổi (superexchange interaction) và có ba loại là JAA (A-O-A), JBB (B-O-B) và JAB (A-O-B), giá trị của các tương tác này phụ thuộc vào khoảng các giữa các cation kim loại và anion O2- (Hình 1. Tương tác siêu trao đổi A-O-B là tương tác mạnh nhất, tương tác A-O-A yếu hơn 10 lần và tương tác B-O-B là yếu nhất. Sau đó, tương tác âm JAB trong mạng tinh thể chiếm ưu thế gây ra hiện tượng phản sắt từ không bù trừ (từ tính) giữa hai phân mạng tứ diện và bát diện [39]. Trong cấu trúc của spinel đảo, tương tác của Fe3+ tại vị trí B sẽ triệt tiêu tương tác của Fe3+ tại vị trí A và mômen tổng là chỉ do mômen từ của các cation hóa trị 2 ở vị trí B.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu hình phân bố ion trong mạng tinh thể spinel ferrite. Trong spinel thường, mômen từ của ion Fe3+ tại vị trí B nằm trong một liên kết phản sắt từ. Ví dụ, độ từ của ZnFe2O4 bằng 0 khi ion Zn2+ nằm ở vị trí A và được coi là không có từ tính.
Dưới nhiệt độ Néel 10K, ZnFe2O4 là phản sắt từ do tương tác B-O-B và thuận từ khi trên 10K [196]. Độ từ của spinel ferrite có thể được tính bằng hiệu số giữa mômen từ trung bình của hai phân mạng. Có hai khả năng dẫn đến sự tồn tại của mômen từ trong 2 phân mạng A-B đó là: Độ từ của hai phân mạng có độ dài bằng nhau nhưng không cộng tuyến và từ độ hai phân mạng là cộng tuyến nhưng có độ lớn khác nhau. b) Tính dị hướng tinh thể: Tính dị hướng từ tinh thể là một đặc tính của vật liệu từ xác định hướng tinh thể có năng lượng mạnh nhất mà độ từ có xu hướng sắp xếp theo.
Năng lượng dị hướng từ tinh thể được định nghĩa là năng lượng cần thiết để quay mômen từ từ hướng trục dễ sang hướng của trục khó. Trong tinh thể spinel ferrite, mômen từ luôn có xu hướng định hướng theo một phương ưu tiên nào đó của tinh thể, tạo nên khả năng từ hóa khác nhau theo các phương khác nhau của tinh thể, đó là tính dị hướng từ. Hay nói cách khác, tính dị hướng từ tinh thể phản ánh tính đối xứng của cấu trúc tinh thể. Nhưng về thực chất, năng lượng dị hướng từ tinh thể là dạng năng lượng có nguồn gốc từ liên kết giữa mômen từ spin và mômen từ quỹ đạo (liên kết spin-quỹ đạo) và do sự liên kết của quỹ đạo điện tử với sự sắp xếp của các nguyên tử trong mạng tinh thể (tương tác với trường tinh thể).
Dị hướng từ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tinh thể mô tả định hướng của độ từ. Năng lượng dị hướng từ tinh thể được biểu diễn bởi chuỗi các hàm liên quan tới góc giữa véctơ mômen từ và trục dễ từ hóa. Ngoài ra, vật liệu spinel ferrite được coi là chất xúc tác quang đầy hứa hẹn do đặc tính hấp thụ mạnh ánh sáng khả kiến và có năng lượng vùng cấm trong khoảng (1,1 - 2,5) eV. Ví dụ, vật liệu Zn1-xCuxFe2O4 (x = 0.5) có giá trị năng lượng vùng cấm lần lượt là 2,10; 2,07; 2,05; 2,03; 2,00 và 1,95 eV.
Thấy rằng, năng lượng vùng cấm giảm khi tăng hàm lượng Cu2+ trong mạng tinh thể [116]. Các phương pháp tổng hợp vật liệu spinel ferrite Phương pháp tổng hợp đóng vai trò quan trọng để thu được các hạt nano ferrite mong muốn vì nó ảnh hưởng đáng kể đến đặc trưng tính chất của vật liệu như hình dạng, kích thước,… Do đó, cần phải xác định được ưu, nhược điểm của từng phương pháp để tổng hợp các dạng vật liệu có hình dạng và kích thước mong muốn. Một số phương pháp chính dùng để tổng hợp vật liệu spinel ferrites như sau. Phương pháp đồng kết tủa (co-precipitation method) Phương pháp đồng kết tủa là phương pháp đơn giản và hiệu quả để tổng hợp hạt nano ferrite.
Quá trình này bao gồm sự đồng kết tủa hyđroxit của các kim loại từ dung dịch chứa các muối vô cơ bằng cách thêm vào dung dịch kiềm (NaOH, KOH, NH4OH). Hỗn hợp dung dịch được giữ trong khoảng 12 h ở nhiệt độ phòng hoặc cao hơn. Kết tủa được thu bằng cách lọc rửa nhiều lần bằng nước cất và sau đó tiến hành nhiệt phân kết tủa thu được spinel ferrite. Kích thước và hình dạng hạt ferrite phụ thuộc vào các điều kiện thực nghiệm như nồng độ tiền chất kim loại, pH dung dịch, thời gian và nhiệt độ phản ứng.
Phương pháp đồng kết tủa được nhiều tác giả sử dụng để tổng hợp các spinel ferrites như Cu1-xZnxFe2O4 [63], NiFe2O4 [160], MgFe2O4 [199]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phương pháp nhiệt dung môi (hydrothermal method) Nhiệt dung môi trong môi trường nước (hydrothermal) hay trong dung môi khác (solvothermal) là phương pháp kết tinh hợp chất từ dung dịch ở nhiệt độ cao và áp suất hơi lớn. Phương pháp thủy nhiệt có thể được định nghĩa là phương pháp tổng hợp các đơn tinh thể, phụ thuộc vào độ tan của sản phẩm trong dung môi ở nhiệt độ và áp suất cao.
Sự tăng độ tan của các chất rắn, kể cả chất không tan ở điều kiện thường là rất đáng kể, và điều đó cho phép kiểm soát sự kết tinh của sản phẩm tạo thành trong quá trình phản ứng. Sự hình thành tinh thể được tiến hành trong các bình kín gọi là autoclave. Autoclave là các ống trụ bằng thép có thành dày và nắp kín có thể chịu được nhiệt độ và áp suất cao trong một khoảng thời gian dài. Ngoài ra, vật liệu sử dụng làm autoclave phải trơ đối với dung môi được dùng.
Để ngăn cản sự ăn mòn bên trong, người ta thường lót vào thành autoclave các lớp bảo vệ (thường là Teflon, titan, platin,…) tùy thuộc vào nhiệt độ và dung môi sử dụng [23], [103], [202]. Các ưu điểm của phương pháp bao gồm: - Lưu giữ được dung môi trong suốt quá trình tổng hợp; - Các tinh thể tinh khiết và có chất lượng cao có thể được phát triển thông qua phương pháp này.