CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU NANOCOMPOSITE (SPION-QDs) (Fe3O4-CdSe/CdS) VỚI LỚP PHỦ POLYMER ĐA CHỨC NĂNG 1.Khái quát về vật liệu nanocomposite chứa thành phần Fe3O4 1.Sơ lược về vật liệu nanocomposite 1.Khái niệm Vật liệu nanocomposite (hay vật liệu cấu trúc nano) là vật liệu tổng hợp từ hai hay nhiều vật liệu khác nhau tạo nên vật liệu mới có tính năng hơn hẳn các vật liệu riêng rẽ ban đầu. Đồng thời chỉ có một phần của vật liệu có kích thước nm hoặc trong thành phần vật liệu tồn tại cấu trúc nano không chiều, một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau. Trong đó kích thước & cấu trúc nano được hiểu khái quát là kích thước hạt vật liệu chiếm trong vùng không gian khoảng một vài nm đến nhỏ hơn 100 nm. Vật liệu nanocomposite chứa thành phần hạt nano từ Fe3O4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 biểu thị vật liệu nanocomposite chứa thành phần hạt nano từ Fe3O4.
Về thành phần cấu tạo, vật liệu nanocomposite gồm một hay nhiều pha gián đoạn được phân bố trong một pha liên tục duy nhất. Pha liên tục gọi là vật liệu nền (matrix), thường làm nhiệm vụ liên kết hoặc bọc phủ các pha gián đoạn lại, thường là các loại polymer, cacbon hoặc một số ít kim loại. Pha gián đoạn được gọi là cốt hay vật liệu tăng cường với các (reinforcement) được trộn vào pha nền. Với cấu trúc chứa các vật liệu thành phần (vật liệu cốt) có kích thước nm, vật liệu nanocomposite hội tụ được các tính chất độc đáo của vật liệu nền cùng các vật liệu thành phần tồn tại trong sự giới hạn về không gian kích thước, năng lượng bề mặt…với những hiệu ứng đặc biệt khác với vật liệu composite khối thông thường dưới cách nhìn nhận của vật lý lượng tử.
Một số hiệu ứng đặc biệt của vật liệu nanocomposite 1. Hiệu ứng bề mặt Khi vật liệu có kích thước càng nhỏ, tỉ số giữa số nguyên tử trên bề mặt và tổng số nguyên tử của vật liệu gia tăng. Xét vật liệu tạo thành từ các hạt nano hình cầu, nếu đặt ns là số nguyên tử nằm trên bề mặt, n là tổng số nguyên tử thì mối liên hệ giữa hai số này sẽ là ns = 4n2/3. Tỉ số giữa số nguyên tử trên bề mặt và tổng số nguyên tử là ns 4n2/3 4 r f 1/3 4 0 (1.1) n n n r Trong đó r0: là bán kính của nguyên tử r: là bán kính của hạt nano (1.1) cho thấy, kích thước của vật liệu giảm (r giảm) thì f tăng lên.
Do nguyên tử trên bề mặt có nhiều tính chất khác biệt so với tính chất của các nguyên tử ở bên trong lòng vật liệu, nên khi kích thước vật liệu giảm thì hiệu ứng có liên quan đến các nguyên tử bề mặt (hiệu ứng bề mặt) tăng. Khi kích thước của vật liệu giảm đến nm thì giá trị f này tăng lên đáng kể. Do f tỉ lệ nghịch với r theo một hàm liên tục, nên sự thay đổi về tính chất có liên quan đến hiệu ứng bề mặt không có tính đột biến theo sự thay đổi về kích thước. Hiệu ứng bề mặt đóng một vai trò quan trọng trong các quá trình hóa-lý, đặc biệt đối với các vật liệu xúc tác, vì những liên kết hở của các nguyên tử trên bề mặt không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thực sự bền, dễ tham gia trong các phản ứng với các chất khác bên ngoài khi có điều kiện.
Sự tiếp xúc giữa bề mặt các hạt và môi trường xung quanh tạo điều kiện cho hiệu ứng xúc tác hiệu quả.1 cho biết một số giá trị điển hình của hạt nano cấu tạo từ các nguyên tử giống nhau. Số nguyên tử & năng lượng bề mặt của hạt nano cấu tạo từ các nguyên tử giống nhau [1] Tỉ số Năng lượng Đường kính Số nguyên Năng lượng nguyên bề mặt hạt nano tử bề mặt/Năng tử trên bề (erg/mol) (nm) lượng tổng (%) mặt (%) 10 30. Hiệu ứng giam hãm lượng tử Một cách cụ thể hơn, sự giam giữ ở đây là đối với các hạt tải điện (điện tử và lỗ trống) trong vật liệu, xảy ra khi kích thước của vật liệu nhỏ xấp xỉ với bán kính Bohr. Từ công thức xác định bán kính Bohr [rB = .m*) ] cho thấy tùy thuộc vào bản chất vật liệu (với hằng số xác định và giá trị khối lượng rút gọn m* của điện tử và lỗ trống khác nhau) sẽ có hiệu ứng giam hãm lượng tử các hạt tải điện ở kích thước khác nhau.
Hiệu ứng giam hãm lượng tử đã làm cho hạt vật liệu có tính chất giống như một nguyên tử nhân tạo (artificial atom) với các trạng thái năng lượng của điện tử - lỗ trống rời rạc (tương tự như trong nguyên tử). Có thể hình dung về năng lượng của hệ hạt tải điện trong hệ phân tử, chấm lượng tử và tinh thể khối như trong hình 1. Việc chuyển từ kích thước của đám phân tử với đặc trưng có liên kết nguyên tử để tạo thành phân tử (bond) với mức năng lượng điện tử rời rạc khá xa nhau thành cấu trúc nguyên tử sắp xếp trật tự của tinh thể khối để có vùng năng lượng cấm Eg đã qua giai đoạn trung gian chấm lượng tử với các mức năng lượng gián đoạn nhưng khá gần nhau. Trên các quỹ đạo phân tử, điện tử có thể tồn tại với các spin khác nhau, để điền đầy các trạng thái LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 được phép.
Mức năng lượng cao nhất đã lấp đầy điện tử được gọi là HOMO (highest occupied molecular orbital), tương ứng của hình ảnh điện tử ở hóa trị, trong khi đó mức năng lượng thấp nhất còn trống (chưa bị chiếm bởi điện tử) được gọi là LUMO (Lowest unoccupied molecular orbital), tương ứng với hình ảnh của điện tử ở vùng dẫn. Vùng dẫn Vùng hóa trị Bán dẫn khối Chấm lượng tử Nguyên tử Hình 1. Chấm lượng tử thể hiện tính chất trung gian giữa “bond - liên kết nguyên tử” và “band - sắp xếp tuần hoàn các nguyên tử để có vùng năng lượng”[33] 1. Hiệu ứng kích thước Các tính chất vật lý, hóa học của vật liệu đều có một giới hạn về kích thước (kích thước tới hạn).
Khi kích thước hạt vật liệu giảm đến dưới kích thước này, các tính chất khác lạ so với bức tranh của vật lý cổ điển bắt đầu được tìm thấy, ánh xạ và “vẽ” lại bằng những “công cụ” lượng tử. Ví dụ điện trở của một dây dẫn kim loại tuân theo định luật Ohm ở kích thước vĩ mô, nhưng nếu kích thước của dây dẫn giảm xuống nhỏ hơn quãng đường tự do trung bình của điện tử trong kim loại (vài chục đến vài trăm nm), lúc này định luật Ohm bỗng trở thành một mô hình chứa đầy khiếm khuyết giữa các quy tắc lượng tử. Ở đây không có sự chuyển tiếp một cách liên tục về tính chất khi đi từ vật liệu khối đến vật liệu nano.2 cho thấy giá trị độ dài đặc trưng của một số tính chất của vật liệu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Độ dài đặc trưng của một số tính chất của vật liệu [9] Tính chất Thông số Độ dài đặc trưng (nm) Bước sóng của điện tử 10-100 Điện Quãng đường tự do trung bình không đàn hồi 1-100 Hiệu ứng đường ngầm 1-10 Vách đômen, tương tác trao đổi 10-100 Từ Quãng đường tán xạ spin 1-100 Giới hạn siêu dẫn 5-100 Hố lượng tử ( bán kính Borh) 1-100 Độ dài suy giảm 10-100 Quang Độ sâu bề mặt kim loại 10-100 Hấp thụ Plasmon bề mặt 10-500 Độ dài liên kết cặp Cooper 0.1-100 Siêu dẫn Độ thẩm thấu Meisner 1-100 Tương tác bất định xứ 1-1000 Biên hạt 1-10 Cơ Bán kính khởi động đứt vỡ 1-100 Sai hỏng mầm 0.1-10 Độ nhăn bề mặt 1-10 Hình học topo bề mặt 1-10 Xúc tác Độ dài Kuhn 1-100 Cấu trúc nhị cấp 1-10 Siêu phân tử Cấu trúc tam cấp 10-1000 Miễn dịch Nhận biết phân tử 1-10 1.Vật liệu nanocomposite Fe3O4/QDs với lớp phủ SiO2 Điều kiện cần của các hạt nanô từ tính ứng dụng trong y sinh học là phải có tính đồng nhất cao về hình dạng và kích thước, từ độ bão hòa lớn và có tính tương hợp với các phần tử sinh học (biomarker). Tính đồng nhất về kích thước phụ thuộc nhiều vào phương pháp chế tạo, bên cạnh đó yếu tố từ độ bão hòa và tính tương hợp sinh học lại liên quan trực tiếp đến bản chất của vật liệu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trong tự nhiên, sắt (Fe) là vật liệu có từ độ bão hòa lớn nhất tại nhiệt độ phòng, sắt không độc đối với cơ thể người và tính ổn định khi làm việc trong môi trường không khí, bên cạnh đó các hạt nanô từ tính có kích thước tương ứng với kích thước của các phân tử nhỏ (1-10 nm) hoặc kích thước của các phần tử sinh học (Vi rút, kháng nguyên, kháng thể, ribôsôm, ADN…~ 10-100 nm), dưới kích thước của tế bào, vi khuẩn, nhiễm sắc thể (~100-1000 nm) giúp chúng có thể thâm nhập vào mao mạch và hầu hết các cơ quan trong cơ thể, giúp con người có thể thao tác ở qui mô phân tử và tế bào trong quá trình chẩn đoán bệnh lý và điều trị. Thêm vào đó, diện tích bề mặt lớn của các hạt nanô giúp cho các hiệu ứng xảy ra bên trên bề mặt diễn ra rất mạnh mẽ, thể hiện ở quá trình chức năng hóa bề mặt của hạt nanô từ tính nhằm gắn kết hạt nanô với các tế bào thông qua các kháng thể/kháng nguyên sẽ dễ dàng hơn.
Từ những nguyên nhân đó, các vật liệu như ô-xít sắt Fe3O4, Fe2O3 được nghiên cứu rất nhiều để làm hạt nanô từ tính ứng dụng trong y sinh học. Fe2O3 với các pha Fe2O3 và Fe2O3 thường không bền trong không khí, dễ bị chuyển pha, hoặc bền nhưng có từ độ bão hòa thấp hơn Fe3O4 nên người ta chủ yếu sử dụng Fe3O4. Mô hình vật liệu nanocomposite chứa hạt nano từ và/hoặc nhiều loại hạt nano khác nhau với các lớp phủ khác nhau Yếu tố tương hợp sinh học được đảm bảo bằng cách sử dụng một hoặc nhiều lớp vỏ bọc (hay vật liệu nền) để bao bọc bên ngoài các hạt nano oxít sắt như polymer, Au, các oxít vô cơ (Al2O3, SiO2)…(Hình 1.3) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vật liệu nanocomposite Fe3O4/SiO2 Trước đây, các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước chủ yếu dùng vật liệu SiO2 để làm vỏ bọc.
Nguồn vật liệu SiO2 được cung cấp từ quá trình thủy phân Tetraethyl orthosilicate (TEOS) (Công thức phân tử: Si(OC2H5)4) biểu thị trên hình 1.4 Si(OC2H5)4 + 2 H2O → SiO2 + 4 C2H5OH Hình 1.