Chương 1: Tổng quan nghiên cứu sử dụng vật liệu lưới sợi Thủy tinh và lưới sợi Cacbon vào mặt đường BTN trong và ngoài nước. Thực trạng khai thác mặt đường BTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Chương 2: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu thực nghiệm sử dụng vật liệu lưới sợi Thủy tinh và lưới sợi Cacbon chế tạo BTN trong phòng thí nghiệm. Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm đánh giá hiệu quả sử dụng vật liệu lưới sợi Thủy tinh và lưới sợi Cacbon để cải thiện một số tính chất mặt đường BTN khu vực tỉnh Quảng Ngãi.
4 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG VẬT LIỆU LƢỚI SỢI THỦY TINH VÀ LƢỚI SỢI CACBON VÀO MẶT ĐƢỜNG BÊ TÔNG NHỰA TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC. THỰC TRẠNG KHAI THÁC MẶT ĐƢỜNG BÊ TÔNG NHỰA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUÃNG NGÃI 1. Nghiên cứu tổng quan về các phá hoại Bê Tông Nhựa(BTN) dƣới tác dụng của tải trọng và tác dụng của nhiệt độ. Bê tông Asphalt: 1.
Tổng quan về Bê tông nhựa(BTN): Bê tông Asphalt là vật liệu khoáng-bitum xây dựng đường, nhận được khi làm đặc hỗn hợp bê tông Asphalt. Hỗn hợp bê tông Asphalt bao gồm đá dăm (hoặc sỏi), cát, bột khoáng, bitum dầu mỏ, phụ gia. Hỗn hợp được thiết kế hợp lý và gia nhiệt từ 120-160°C. Thành phần của bê tông Asphalt theo khối lượng thông thường như sau: đá dăm: 20-65%; cát: 30-66%; bột khoáng: 4-14%; bitum: 5-7%; và phụ gia tuỳ theo kết quả thí nghiệm.
Trên cơ sở kết dính hữu cơ (bitum, guđrông, nhũ tương) trong xây dựng đường thường dùng các vật liệu hỗn hợp khoáng và chất kêt dính hữu cơ. Phổ biến nhất và có chất lượng cao nhất từ vật liệu khoáng-bitum là bê tông Asphalt. Bê tông Asphalt là sản phẩm nhận được khi làm đặc và rắn chắc hỗn hợp Asphalt-Bêtông. Hỗn hợp bê tông Asphalt bao gồm: đá dăm, cát, bột khoáng và bitum được lựa chọn thành phần hợp lý, nhào trộn và gia công thành một hỗn hợp đồng nhất.
Cốt liệu lớn làm tăng khối lượng hỗn hợp, làm giảm giá thành của bê tông Asphalt và tăng cường độ vả độ ổn định, cốt liệu nhỏ khi trộn với bitum tạo thành vữa Asphalt làm tăng tính dẻo của hỗn hợp, ảnh hưởng đến khả năng làm việc và phạm vi ứng dụng của bế tông Asphalt. Bột khoáng làm thay đồi tỷ lệ cốt liệu nhỏ làm hồn hợp đặc hơn và tăng tỷ lệ bề mặt của các cốt liệu, nó kết hợp với bitum tạo nên chất kết dính mới bao bọc và bôi trơn bề mặt cốt liệu. Chất lượng của bê tông Asphalt phụ thuộc vào nguồn gốc của cốt liệu, bột khoáng và độ quánh/ nhớt của bitum. Bê tông Asphalt là tốt nhất so với các hỗn hợp vật liệu khoáng-bitum 5 khác ở chỗ nó có độ đặc, cường độ, độ ổn định và độ bền cao do sự tham gia của bột khoáng trong thành phần.
Bê tông Asphalt được sử dụng làm lớp phủ mặt đường có lượng giao thông cao như đường cao tốc, đường thành phố và sân bay. Bê tông Asphalt đòi hỏi kết cấu phía dưới có độ cứng cao để đảm bảo không bị nứt gẫy trong quá trình khai thác. Đồng thời việc cải tiến độ nhám để đảm bảo cho xe chạy với tốc độ cao là vấn đề còn đang tiếp tục nghiên cứu. Cường độ và độ ổn định của bê tông asphalt được hình thành nhờ sự liên kết giữa cốt liệu với bột khoáng và bitum.
Thành phần của bê tông asphalt có thể được thiết kế theo tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn của Viện Asphalt Hoa Kỳ. Thành phần hỗn hợp vật liệu khoáng theo các tiêu chuẩn này về căn bản là giống nhau. Tuy nhiên, vấn đề lượng bitum tối ưu còn có những điểm chưa thống nhất. Các tính chất của bê tông Asphalt phụ thuộc vào nhiệt độ thi công và nhiệt độ khai thác.
Theo các tài liệu quốc tế thì bê tông Asphalt có thể khai thác ở nhiệt độ từ -50°C đến +60°C. Các giải pháp để tăng cường độ ổn định nhiệt của bê tông Asphalt cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng bê tông Asphalt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Trong quá trình khai thác bê tông asphalt chịu ảnh hưởng của các yếu tố nhiệt độ và thời tiết nên nó bị già đi, nứt nẻ, bị mài mòn và biến dạng làm giảm tuổi thọ khai thác của bê tông Asphalt. Tuổi thọ trung bình của các lớp phủ mặt đường bằng bê tông Asphalt khoảng 10 đến 15 năm.
Trong điều kiện thiết kế, thi công, bảo dưỡng và khai thác hợp lý thì tuổi thọ tối đa có thể đạt đến 20 năm. Yêu cầu về thành phân hôn hợp, tính chất cúa bê tông Asphalt và phương pháp thiết kế thành phần đã được ghi rõ trong tiêu chuẩn TCVN và TCN GTVT. Có thể tham khảo tiêu chuẩn 9128-84 hoặc 2.02-85 hoặc 12801-84 của Nga; tiêu chuẩn của Viện Asphalt Hoa Kỳ. Bê tông Asphalt đã được sử dụng để xây dựng khoảng 50% các con đường trên toàn thế giới và khoảng 15% các con đường ở Việt Nam.
Bê tông Asphalt còn có thể sử dụng làm vỉa hè, khu vui chơi giải trí, công trình thể thao và các công trình thuỷ lợi. Bê tông Asphalt chủ yếu có màu đen nhưng trong điều kiện yêu cầu cũng có thể chế tạo bê tông asphalt có màu khác. Cấu trúc của BTN và nguyên lý hình thành cường độ của mặt đường Bê tông nhựa(BTN): a/ Cấu trúc của BTN: Tính chất vật lý, cơ học của BTN phụ thuộc vào chất lượng, tỉ lệ thành phần các vật liệu chế tạo và cấu trúc bê tông, cấu trúc phụ thuộc vào tỉ lệ của các vật liệu và độ chặt của hỗn hợp.về mặt cấu trúc, BTN là một vật liệu xây dựng có cấu trúc thuộc loại cuội kết nhân tạo, trong đó các cốt liệu khoáng vật được kết dính với nhau nhờ chất liên kết Asphalt. Cấu trúc của vật liệu khoáng trong BTN được chia làm 3 loại: có khung, bán khung và không có khung.
Cấu trúc có khung: là cấu trúc trong đó hệ số lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt của bộ khung cát, đá dăm bằng chất liên kết bitum là nhỏ hơn hoặc bằng 1. Như vậy các chất liên kết nhựa không dễ chuyển động, những hạt đá dăm và cát tiếp xúc với nhau trực tiếp hoặc thông qua lớp liên kết bitum tạo cấu trúc. Bộ khung có thể chỉ là đá dăm. Trong trường hợp này đá dăm không chuyển động được cùng với hỗn hợp vữa ( hỗn hợp gồm cát, bột khoáng và bitum).
< Sự có mặt các khung cứng không gian làm tăng độ ổn định của lớp phủ mặt đường. Cấu trúc khung quen thuộc thường chứa lượng bột khoáng từ 4- 10% và lượng bitum từ 5-7%. Cấu trúc bán khung của vật liệu khoáng là cấu trúc có các phần cục bộ của hạt đá dăm tập trung lớn hơn thể tích của vữa asphalt. Trong bê tông nhựa không có khung, hạt đá dăm và cát bị dịch chuyển do lượng thừa của chất kết dính bitum (hệ số lấp đầy lổ rồng lớn hơn 1).
Cường độ và độ kết dính của cấu trúc này giảm khi bị tác dụng nhiệt làm cho lớp phủ mặt đường bị biến dạng dẻo. Sự tạo nên cấu trúc tối ưu của BTN phụ thuộc vào thành phần, chất lượng vật liệu, công nghệ sản xuất và việc lựa chọn tối ưu thành phần hỗn hơp BTN. 7 b/ Nguyên lý hình thành cường độ của mặt đường BTN [9] Theo N. Ivanov: cuờng độ BTN phụ thuộc vào thành phần lực dính và góc ma sát trong.
- Lực ma sát: do sự ma sát giữa các hạt có kích thước lớn. Các hạt cốt liệu càng sần sùi, sắc cạnh và đồng đều lực ma sát càng lớn. Lực ma sát ít thay đổi theo nhiệt độ và thời gian tác dụng của tải trọng nhưng thay đổi nhiều theo hàm lượng nhựa. - Lực dính: + Lực dính tương hỗ C1: do sự móc vướng vào nhau của các hạt phụ thuộc vào độ lớn và độ sắc cạnh của hạt; ít thay đổi khi nhiệt độ - độ ẩm - tốc độ biến dạng thay đối nhưng sẽ giảm khi BTN chịu tải trọng trùng phục của xe cộ và hỗn hợp kém.
+ Lực dính phân tử C2: do lực dính bám tác dụng tương hỗ giữa nhựa với cốt liệu và lực dính bên trong của bản thân nhựa. Lực dính bám tác dụng tương hỗ giữa nhựa với cốt liệu : phụ thuộc vào tỉ diện cốt liệu, tính chất hấp phụ của cốt liệu đối với nhựa. Lực dính kết bên trong của bản thân nhựa phụ thuộc vào cấu trúc, độ nhớt của nhựa; nhiệt độ và tốc độ biến dạng. Phân loại Bê tông Asphalt: Bê tông asphalt là vật liệu khoáng-bitum có chất lượng cao.
Ngoài ra còn có các loại hỗn hợp khác như: vật liệu đá nhựa macadam, đá nhựa cấp phối đặc, đá nhựa cường độ cao, đá nhựa hạt mịn (vữa asphalt), hồn hợp tạo nhám, đá nhựa thấm nước. Sự khác nhau cơ bản giữa hỗn hợp asphalt và đá nhựa là cấp phối của hỗn hợp. cấp phối cốt liệu trong asphalt thường bao gồm cốt liệu lớn, cốt liệu mịn và bột đá. Trong các hỗn hợp đá nhựa thường ít sử dụng bột đá.
Các hỗn hợp tạo nhám và đá nhựa thấm nước thường sử dụng các cấp phối gián đoạn. Bê tông nhựa còn có thế được chế tạo từ các loại bitum polyme hoặc các 8 loại nhũ tương bitum. Cường độ của bê tông asphalt thay đổi từ l-15MPa vàphụ thuộc vào nhiệt độ. Bê tông asphalt có thể được phân loại theo các yếu tố sau: Theo các tiêu chuẩn quốc tế và 22TCN 249-98 của Bộ Giao thông vận tải quy định như sau: Hỗn hợp bê tông asphalt và bê tông asphalt được phân loại theo các đặc điểm sau: Theo nhiệt độ thi công: Hỗn hợp bê tông asphalt trong lớp phủ mặt đường được chia ra loại nóng, ẩm và nguội.
Hỗn hợp nóng được rải và bắt đầu làm khi nhiệt độ không nhỏ hơn 120°C. Hỗn hợp này thường dùng bitum có độ quánh 40/60, 60/70 và 70/100. Hỗn hợp ấm được rải và bắt đầu làm đặc khi nhiệt độ không nhỏ hơn 90°C và thường dùng bitum lỏng số 1,2, 3. Hỗn hợp nguội dùng bitum lỏng có độ nhớt 70/130 được rải ở nhiệt độ không khí không nhỏ hơn 5°c và được giữ ở nhiệt độ thường.
Theo độ đặc (hoặc độ rỗng dư): Theo chỉ tiêu độ rỗng dư bê tông asphalt được chia làm 3 loại: loại đặc có độ rỗng 2-5%, loại rỗng có độ rỗng 6-12% và loại rất rống có độ rồng 12-25% theo thể tích. Theo độ lớn của hạt cốt liệu: Theo đường kính lớn nhất của hạt vật liệu khoáng được chia ra 3 loại: loại lớn (Dmax <40mm), loại trung bình (Dmax <20mm) và loại nhỏ (hỗn hợp hạt nhỏ và hỗn họp cát Dmax <5mm).