phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của Luận văn gồm 3 chƣơng và 6 tiết. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP VÀ VĂN HÓA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM CHƢƠNG 2. KHẢO SÁT VĂN HÓA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP CÔNG TY TNHH THƢƠNG MẠI MINH HÀN CHƢƠNG 3. KINH NGHIỆM VÀ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC NHÀ QUẢN LÝ TRONG VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
15 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP VÀ VĂN HÓA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM 1. Văn hóa quản lý doanh nghiệp 1. Khái niệm Văn hóa là một thành tố quan trọng tác động mạnh mẽ tới quá trình quản lý.
Tuy nhiên, văn hóa lại là một lĩnh vực rất rộng, bao trùm lên mọi hoạt động của đời sống con ngƣời trong đó có quản lý. Văn hóa quản lý là một bộ phận của quản lý nói chung. Vì thế, để hiểu rõ hơn về văn hóa quản lý nói chung và văn hóa quản lý doanh nghiệp nói riêng, chúng ta sẽ bắt đầu từ thế nào là quản lý? Thế nào là văn hóa? Quản lý và văn hóa là hai lĩnh vực hoạt động rất đặc biệt của con ngƣời, thể trình độ phát triển vƣợt bậc của nhân loại. Quản lý và văn hóa đều phát triển vì con ngƣời, thích nghi biến đổi cũng đều vì con ngƣời.
Theo thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời khái niệm về quản lý và văn hóa cũng có nhiều khác biệt và ngày càng phù hợp với tình hình của thực tế. Với mỗi cách tiếp cận khác nhau chúng ta lại có một khái niệm khác nhau về văn hóa và quản lý. Từng bƣớc phát triển của nhận thức con ngƣời và vai trò của văn hóa và quản lý, hình thành dần dần những khía cạnh của chỉnh thể văn hóa quản lý. Quản lý – một loại lao động đặc biết của loài ngƣời, cái mà qua đó ngƣời ta nhân sức lao động của mình lên gấp nhiều lần.
Nhƣng để định nghĩa chính xác rằng thế nào là quản lý? Thì đến nay vẫn có nhiều luồng quan điểm khác nhau, với mỗi cách tiếp cận, quản lý sẽ đƣợc định nghĩ khác nhau. Đã có rất nhiều cách tiếp cận đƣợc xây dựng với những quan điểm riêng của Koontz và các tác giả, tạo nên một khu rừng lý thuyết quản lý [8] + Tiếp cận theo kinh nghiệm hoặc theo trƣờng hợp. + Tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân + Tiếp cận theo hành vi nhóm 16 z + Tiếp cận theo hệ thống xã hội + Tiếp cận theo hệ thống kỹ thật – xã hội + Tiếp cận theo lý thuyết ra quyết định. + Tiếp cận hệ thống + Tiếp cận toán học hoặc khoa học quản lý.
+ Tiếp cận theo điều kiện hoặc theo tình huống. + Tiếp cận theo vai trò quản lý + Tiếp cận tác nghiệp. Các cách tiếp cận khác nhau, rõ ràng cho thấy sự đa dạng của các quan điểm về quản lý. Tuy vậy, để có cái nhìn tổng quát về quản lý, ta có thể xuất phát từ góc độ lý thuyết hệ thống: Quản lý là cách thức phối hợp con ngƣời và các nguồn lực khác để đạt đến mục tiêu của tổ chức.
Khái niệm này, có thể ứng dụng trong mọi trƣờng hợp khác nhau, trong mọi hình thức tổ chức. Vì vậy, với luận văn của mình, tác giả sử dụng định nghĩa sau: “Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên đối tượng bằng công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến đổi của môi trường.”[29] Dù có tiếp cận theo quan điểm nào, thì chúng ta cũng thấy rằng, hai nhân tố không thể thiếu đƣợc khi nói về quản lý đó là: Chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý – và suy cho cùng thì đó vẫn là nói về con ngƣời. Quản lý theo cách nào cũng luôn phải quan tâm tới con ngƣời, mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với môi trƣờng bên ngoài. Chính vì lẽ đó mà quản lý vừa mang tính khoa học nhƣng cũng mang tính nghệ thuật rất cao.
Đó chính là lối ứng xử của con ngƣời, cách thức con ngƣời hoạt động, ghi dấu ấn của mình trong tổ chức, trong đời sống, và đó cũng chính là văn hóa. Cùng với sự phát triển của khóa học kỹ thuật, các nhà quản lý, ngày càng quan tâm nhiều hơn đến nhân viên, ngƣời lao động của mình, từng bƣớc khai thác tốt hơn yếu tố văn hóa, coi đó trở thành một yếu tố thúc đẩy hiệu quả quản lý. 17 z Cũng nhƣ quản lý, Văn hóa cũng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau. Mỗi quan niệm khác nhau, phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau về các hoạt động của loài ngƣời.
Văn hóa đƣợc xem là tấm gƣơng phản chiếu đời sống và nếp sống của một cá nhân, một cộng đồng, dân tộc. Thông qua văn hóa, ta có thể nắm bắt đời sống bên trong của một con ngƣời - chứa đựng những tâm tƣ, nguyện vọng, hệ giá trị, chuẩn mực mà cá nhân đó đang mong muốn hay đề cao. UNESCO – Tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa của Liên hiệp quốc, đã đƣa ra định nghĩa về văn hóa đƣợc thông qua trong bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26 tháng 7 đến ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại Mehico nhƣ sau: “ Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những nhân vật đặc biệt có lý tính, có đầu óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một thực thể chưa hoàn chỉnh đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo những công trình vượt trội lên bản thân.” Theo giáo sƣ, Trần Ngọc Thêm trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội. Những giá trị văn hóa này lắng đọng và kết tinh từ đời sống thực tiễn của con ngƣời trong sự tƣơng tác với môi trƣờng tự nhiên, xã hội mà con ngƣời đang sống. Điều đó có nghĩa không phải tất cả những gì con ngƣời tạo ra đều là văn hóa mà chỉ có những kết tinh thành giá trị thì đó mới là văn hóa.[tr10; 31] Có thể nói, dù định nghĩa thế nào, khi nói đến văn hóa là nói đến tính giá trị, là thƣớc đo mức độ nhân bản của xã hội và con ngƣời.
Văn hóa đƣợc hình 18 z thành từ sự góp nhặt nhỏ nhất của từng thành viên trong xã hội, của từng tổ chức trong xã hội, của từng cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Doanh nghiệp, trong quá trình phát triển của nhân loại, con ngƣời cố kết với nhau nhằm phục vụ những mục tiêu, thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của mình vì thế các loại hình tổ chức ra đời. Tổ chức ra đời nhƣ một điều tất yếu của sự phát triển, nó đánh dầu một sự phát triển trong nhận thức của con ngƣời. Các tổ chức với sự phong phú về mục đích hình thành dẫn tới sự đa dạng của loại hình.
Mỗi loại hình tổ chức khác nhau lại có những đặc điểm riêng biệt về cơ cấu, cách tổ chức, mục tiêu hoạt động khác nhau. Doanh nghiệp là một trong những loại hình tổ chức của con ngƣời. Nói đến doanh nghiệp có nhiều những vấn đề khác nhau, cũng có nhiều loại hình khác nhau, tuy nhiên nói một cách nào đó, khi nói đến doanh nghiệp có những vấn đề mang tính chất rất riêng của nó. Nói đến doanh nghiệp, cho dù là ngày hôm nay nhiều doanh nghiệp có những mục tiêu hoạt động rất đa dạng, vì cộng đồng, vì xã hội và sự phát triển bền vứng, nhƣng điều đầu tiên phải khẳng định mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là sinh lợi nhuận, điêu này tạo ra sự khác biệt trong cách thức tổ chức, trong cách ứng xử giữa các thành viên trong doanh nghiệp với nhau.
Vấn đề thứ hai khi nói đến doanh nghiệp, ở đó luôn có sự “trao đổi – mua bán” giữa ngƣời đứng đầu doanh nghiệp và thành viên khác, cái mang ra trao đổi ở đây là “sức lao động” của con ngƣời”. Giữa hai đối tƣợng có sự ràng buộc, cam kết thỏa thuận với nhau về mức độ quyền lợi, trách nhiệm trên cơ sở năng suất lao động hay “sức lao động” đóng góp. Có nhiều định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp, nhƣng trong luận văn của mình khái niệm doanh nghiệp đƣợc sử dụng theo Điều 4 của Luật doanh nghiệp 2014 có định nghĩa rằng: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện mục đích kinh doanh”. Văn hóa quản lý, Là phạm trù giao thoa giữ hai vùng khái niệm: văn hóa và quản lý.
Văn hóa quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc tạo 19 z dựng một sắc thái quản lý riêng của mỗi tổ chức, từ đó tạo dựng nên những nét riêng biệt của tổ chức. Văn hóa quản lý là một biểu hiện sinh động trong hệ thống đa dạng của đời sống văn hóa của con ngƣời. Văn hóa quản lý nhìn chung đƣợc thể hiện qua những khía cạnh sau: - Trong phong cách người lãnh đạo: Đó là văn hóa đƣợc thể hiện thông qua cách thức xây dựng văn hóa tổ chức của ngƣời lãnh đạo đó. Văn hóa này đƣợc xây dựng dựa trên nhiều yếu tố nhƣ: ứng xử với quyền lực với các lợi ích, trong quan hệ cá nhân, tập thể, cộng đồng, v.