Chương 1 TÌM HIỂU ĐỊA LÝ LỊCH SỬ VÀ HỆ THỐNG CHÙA QUẬN BA ĐÌNH Khoa học địa lý lịch sử (géographie historique) là môn khoa học rất cần thiết trong việc nghiên cứu văn hoá và lịch sử dân tộc; ở đó chúng ta có thể tìm thấy nhiều vấn đề “lịch sử trầm tích” của một địa phương, một dân tộc. Vấn đề cụ thể ở đây là địa lý lịch sử Thăng Long - Hà Nội nói chung và quận Ba Đình nói riêng. Đây là một đề tài nghiên cứu khoa học lớn và có rất nhiều sự bàn luận từ bấy lâu nay. Trước khi tìm hiểu về địa lý lịch sử quận Ba Đình, chúng ta không thể không tìm hiểu sơ lược địa lý lịch sử Thăng Long - Hà Nội.
Thăng Long - Hà Nội là một vùng đất “nhạy cảm” qua nhiều triều đại lịch sử nên sự biến thiên về mặt địa giới cũng như về nhiều mặt của đời sống chính trị - xã hội xảy ra liên tục. Những vấn đề mà chúng tôi nêu ra sau đây là tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu và những ghi chép trong thư tịch Hán Nôm về địa lý lịch sử Thăng Long - Hà Nội nói chung và quận Ba Đình nói riêng. Tìm hiểu địa lý lịch sử quận Ba Đình 1. Sơ lƣợc về sự thay đổi tên gọi Thăng Long - Hà Nội qua các đời Hà Nội trải qua nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử.
Trong thời kỳ cai trị của người Trung Quốc, Hà Nội từng có tên là huyện Tống Bình, đã xuất hiện trong sử sách từ những năm 454 - 456 thời Nam Bắc triều của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Trung Quốc. Huyện Tống Bình được nâng cấp lên quận Tống Bình, gồm 3 huyện: Nghĩa Hoài, Tuy Ninh ở bờ nam sông Hồng (đoạn Từ Liêm, Hoài Đức ngày nay), còn Xương Quốc ở bờ bắc (Đông Anh, Gia Lâm ngày nay). Quận trị là vùng nội thành hiện nay. Về sau nó được đổi tên gọi là Đại La, sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục có viết: “Thành này do Trương Bá Nghi đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 (767) đời Đường; năm Trinh Nguyên thứ 7 (791), Triệu Xương đắp thêm; năm Nguyên Hòa thứ 3 (808), Trương Chu lại sửa đắp lại; năm Trường Khánh thứ 4 (824), Lý Nguyên Gia dời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành; năm Hàm Thông thứ 7 (866), Cao Biền đắp ngoại thành bao quanh "kim thành", cũng gọi tên là La Thành” [114, Quyển V, tr.
Long Đỗ cũng là một tên gọi của Hà Nội, nhưng không phải tên gọi chính thức, tên gọi này xuất hiện từ thời Cao Biền. Truyền thuyết kể rằng, vào năm 866, khi Cao Biền đắp thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Năm 1010, sau khi dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La,vua Lý Thái Tổ đổi tên là thành Thăng Long (昇龍).
Tên gọi này được giữ cho tới năm 1397, khi thủ đô được di chuyển về Thanh Hóa, (tức Tây Đô). Thăng Long khi đó có tên gọi là Đông Đô. Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương - TM) coi phủ đô hộ là Đông Đô” [40, tr. Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử thần nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hoá là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô” [114, Quyển XI, tr.
Năm 1408, nước Đại Ngu của cha con họ Hồ bị quân đội của nhà Minh xâm chiếm và Đông Đô bị người Minh đổi tên thành Đông Quan. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Sang thời Lê sơ (1428 - 1527) Lê Thái Tổ vẫn định đô ở Thăng Long và năm 1430 đổi Đông Đô thành Đông Kinh. Thời Nguyễn, kinh đô chuyển vào Phú Xuân - Huế, nên tuy lại gọi là Thăng Long nhưng chữ Long với nghĩa là Thịnh vượng, sau gọi là Bắc thành, Hà Nội tỉnh thành. Địa giới hành chính của thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê, thành Hà Nội thời Nguyễn vì thế cũng thay đổi rất nhiều.
Sơ lƣợc về sự thay đổi địa chí, địa bạ Thăng Long - Hà Nội qua các đời Năm 1010, sau khi dời đô từ Hoa Lư về Đại La, vua Lý Thái Tổ đổi tên là thành Thăng Long. Từ khi trở thành vùng đất kinh thành, địa dư, địa bạ Thăng Long - Hà Nội đã trải qua nhiều sự thay đổi. Thời Lý, vùng đất kinh thành thuộc phủ Ứng Thiên (Đại Nam nhất thống chí) hay phủ Đô Hộ (Đại Việt sử lược) hay lộ Đại La Thành (An Nam chí lược), sang thời Trần gọi là phủ Trung Kinh, thời Hồ gọi là lộ Đông Đô và đơn vị hành chính cơ sở là phường. Năm 1230, nhà Trần chia đất hai bên tả, hữu kinh thành làm 61 phường.
Sang thời Lê Sơ (1428 - 1527), vua Lê đổi Đông Đô thành Đông Kinh, tuy tên Thăng Long vẫn tồn tại. Đất kinh thành thuộc phủ Trung Đô và từ năm 1469 đổi thành phủ Phụng Thiên gồm 2 huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương, mỗi huyện có 18 phường. Quy hoạch 36 phường của Thăng Long - Đông Kinh bắt đầu từ đây (nhưng không có một tài liệu nào ghi cụ thể danh sách đó). Giai đoạn này việc thay đổi địa dư diễn ra nhiều và liên tục, nhất là sau khi thành phố Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp năm 1888.
Có 3 lần thay đổi: + Từ năm 1831 đến 1887 (Đồng Khánh thứ 2) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Hai tài liệu Hà Nội địa bạ [61, tr.95 - 135] và Đồng Khánh địa dư chí lục [61, tr.666 - 745] kê tỉnh Hà Nội lúc này gồm 4 phủ là Hoài Đức (3 huyện: Từ Liêm, Thọ Xương, Vĩnh Thuận), Thường Tín (3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên), Ứng Hoà (4 huyện: Sơn Minh, Hoài An, Chương Đức, Thanh Oai) và Lý Nhân (5 huyện: Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục, Nam Xương). Tổng cộng 15 huyện, 127 tổng, 1104 xã, thôn, phường. Thời gian này tỉnh Hà Nội có phạm vi rộng nhất, gồm toàn bộ đất đai khu vực nội thành, huyện Từ Liêm và hai tỉnh Hà Đông, Hà Nam ngày nay. Tổng cộng 14 huyện, 113 tổng và 992 xã thôn.
So với địa dư từ 1831 đến 1887, năm này tỉnh Hà Nội có thêm huyện Đan Phượng nhưng bớt hai huyện Hoài An và Chương Đức. + Năm 1889 - 1890 đời Thành Thái Lúc này tỉnh Hà Nội không còn cấp phủ và chỉ còn 11 huyện là Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên, Từ Liêm, Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Sơn Lãng, Thanh Oai, Kim Bảng, Duy Tiên và Đan Phượng. Tổng cộng 95 tổng, 750 xã thôn. Thời gian này, địa dư tỉnh Hà Nội đã thu hẹp đáng kể, từ chỗ mở rộng 15 huyện, nay chỉ còn 11 huyện, năm 1888 cắt 2 huyện Hoài An, Chương Đức; 3 huyện Thanh Liêm, Bình Lục và Nam Xương năm 1890 chuyển về thành lập tỉnh Hà Nam.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Năm 1888, thành phố Hà Nội thành nhượng địa của Pháp, vùng ngoại thành nhập với huyện Vĩnh Thuận đổi tên là huyện Hoàn Long, tỉnh lỵ Hà Nội chuyển về xứ Cầu Đơ, gọi là tỉnh Cầu Đơ, sau đó đổi tên thành tỉnh Hà Đông. Có thể liệt kê các phủ huyện của tỉnh Hà Nội thời Nguyễn (cho đến tại năm ra đời của tài liệu muộn nhất là Danh mục làng xã Hà Nội cuối thế kỷ XIX (1890) [61, tr.237 - 252] như sau: STT Địa danh hành chính Thời gian xuất hiện Phủ Huyện 1802-1831 1831-1887 1888 1889-1890 1 Hoài Đức Vĩnh Thuận + + + + Thọ Xương + + + + Từ Liêm + + + Đan Phượng + + 2 Thường Tín Thượng Phúc + + + Thanh Trì + + + Phú Xuyên + + + 3 ứng Hoà Sơn Minh + + + (Sơn Lãng) Hoài An + Chương Đức + Thanh Oai + + + 4 Lý Nhân Kim Bảng + + + Duy Tiên + + + Thanh Liêm + + Bình Lục + + Nam Xương + + Cộng 2 15 14 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Trong các tài liệu thư tịch cổ như Các trấn tổng xã danh bị lãm, Bắc thành địa dư chí lục, Hà Nội địa bạ, Đồng Khánh địa dư chí lục, Danh mục làng xã Hà Nội năm 1890 [61], có thể nhận thấy sự thay đổi rất nhiều và liên tục hệ thống tên riêng của những phường, xã, thôn của Hà Nội từ thời Gia Long qua Minh Mệnh, Tự Đức, Đồng Khánh đến thời Thành Thái, đặc biệt trong khoảng từ thời Minh Mệnh sang Tự Đức. Địa lý hành chính quận Ba Đình Sự thay đổi tên gọi tên riêng của những phường xã thôn của Hà Nội có nhiều lý do trong đó có lý do từ việc tách nhập đơn vị hành chính. Các thư tịch địa dư, địa bạ hiện còn là tư liệu rất quý giá khi tìm hiểu địa lý hành chính quận Ba Đình.
Dựa vào đó chúng ta có thể tìm hiểu ranh giới đại lý hành chính quận Ba Đình trong lịch sử so với ngày nay. Nhìn lại trong lịch sử, ngay từ thời Lý - Trần - Lê, quận Ba Đình đã luôn nằm trong khu vực Hoàng thành. Sách Đại Việt địa dư toàn biên viết: “…Về bên đông, phía trước là Thái Miếu, phía sau là Đông Cung. Bên tây qua núi Khán Sơn là điện Giảng Võ…” [61, tr.
Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Thành tỉnh Hà Nội chu vi hơn 432 trượng, cao 1 trượng 1 thước 2 tấc, hào rộng trên dưới 4 trượng, mở 5 cửa, ở địa phận hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận. Từ thời nhà Lê về trước kinh đô đều đặt ở đây, lại có tên là thành Phụng Thiên, ở trong thành Đại La, thành lâu năm sụt đổ. Đến đời Tây Sơn, theo nền cũ đắp thành quanh từ cửa Đông Hoa đến cửa Đại Hưng. Bản triều đầu đời Gia Long lấy làm lỵ sở của Bắc Thành”[61, tr.
Trong những năm qua, vấn đề vị trí thành Thăng Long đã được nhiều nhà sử học quan tâm, nghiên cứu. Cho đến nay, nhiều giả thiết về vị trí TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 thành Thăng Long đã được nêu lên. Ở đây xin trích dẫn và nêu ra các giả thiết sau: Giả thiết thứ nhất cho rằng Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê ở vào quãng phía Bắc từ chỗ rẽ xuống đường trường Đua Ngựa đến đền Quán Thánh, phía Đông từ đền Quán Thánh đến gần Văn Miếu, phía Nam từ gần Văn Miếu đến gần chỗ rẽ tránh đường tàu điện Cầu Giấy, phía Tây từ chỗ rẽ tránh đường tàu điện Cầu Giấy đi tắt đến gần chỗ rẽ xuống trường đua ngựa [8].