MỞ ĐẦU Trình bày sự cần thiết của đề tài, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cấu trúc của luận văn. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ VLC VÀ SO SÁNH VỚI CÁC CHUẨN GIAO TIẾP KHÔNG DÂY KHÁC - Giới thiệu về Visible Light Communication - VLC - Lịch sử ra đời và tình hình nghiên cứu hiện tại - So sánh với các chuẩn các không dây khác CHƯƠNG 3: CÁC KỸ THUẬT CƠ BẢN CỦA VLC - Khối phát - Khối thu - Tần số - quang phổ - Nhiễu - Bảo mật CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG MÔ HÌNH BẢNG GIÁ ĐIỆN TỬ - Thiết kế phần cứng - Phần mềm - Vận hành, kiểm tra và tối ưu hệ thống CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN - Đánh giá các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện đề tài - Một số đề xuất cho hướng phát triển tiếp theo. 5 Luận văn tốt nghiệp 2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ VLC VÀ SO SÁNH VỚI CÁC CHUẨN GIAO TIẾP KHÔNG DÂY KHÁC Giới thiệu về Visible Light Communication – VLC 2.
Thông tin quang Việc thông tin bằng ánh sáng đã sớm xuất hiện trong lịch sử phát triển của loài người khi con người trước đó đã liên lạc với nhau bằng cách ra dấu (hand signal). Liên lạc bằng cách ra dấu cũng là một dạng của thông tin quang vì chỉ có thể thực hiện được khi có ánh sáng. Những kỹ thuật thông tin quang đầu tiên là semaphore, cờ, tín hiệu khói, lửa hiệu. Thông tin truyền theo kiểu này rất chậm, khoảng cách truyền có giới hạn và tỉ lệ lỗi rất lớn.
Trải qua một thời gian dài từ khi con người sử dụng ánh sáng mặt trời và lửa để làm thông tin liên lạc đến nay, lịch sử của thông tin quang đã qua những bước phát triển và hoàn thiện, có thể tóm tắt bằng những mốc chính sau đây: - Năm 1790: Claude Chappe, kỹ sư người Pháp, đã xây dựng một hệ thống điện báo quang (optical telegraph). Hệ thống này gồm một chuỗi các tháp với các đèn báo hiệu. Bằng cách này, tin tức được truyền vượt chặng đường 200 km trong vòng 15 phút. - Năm 1870: John Tyndall đã chứng minh được rằng ánh sáng có thể dẫn được theo một vòi nước uốn cong dựa vào nguyên lý phản xạ toàn phần.French, kỹ sư người Mỹ, nhận được bằng sáng chế về hệ thống thông tin quang.
Phương tiện truyền dẫn của ông là thanh thủy tinh.Maiman đưa laser vào hoạt động thành công, làm tăng dung lượng hệ thống thông tin quang rất cao.Kao và George Hockham chứng minh rằng nếu thủy tinh được chế tạo đủ tinh khiết thì ánh sáng có thể truyền đi xa nhiều km. - Năm 1970: hãng Coming Glass Works đã chế tạo thành công sợi SI có suy hao α < 20 dB/km ở bước sóng X = 633 nm. - Năm 1972: loại sợi GI được chế tạo với suy hao α < 4 dB/km. 6 Luận văn tốt nghiệp - Năm 1983: sợi SM (Single Mode) được sản xuất ở Mỹ.
- Năm 1988: Công ty NEC thiết lập một mạng đường dài mới có tốc độ 10 Gbit/s trên chiều dài 80,1 km dùng sợi dịch tán sắc và Laser hồi tếp phân bố. - Hiện nay, sợi quang có suy hao α < 0,2 dB/km ở bước sóng 1550 nm, và có những loại sợi đặc biệt có suy hao thấp hơn giá trị này rất nhiều. Hệ thống cáp quang là một trong những ứng dụng của việc sử dụng ánh sáng để truyền thông tin. Cáp quang có nhiều ưu điểm vượt trội hơn cáp đồng, đặc biệt là về tốc độ.
Ngoài ra, cáp quang có độ suy hao thấp, thông tin khó bị nhiễu hoặc bị đánh cắp, đem đến độ tin cậy cao. Do đó, người ta thường sử dụng cáp quang trong việc truyền những thông tin quan trọng, dung lượng lớn và cần có tốc độ cũng như độ an toàn cao. Ánh sáng được sử dụng trong thông tin quang thường là ánh sáng khả kiến hoặc hồng ngoại, được tạo ra bởi các đèn LED hoặc Lazer. Ánh sáng được điều chế và sau đó được đưa vào sợi quang, dựa vào nguyên lý truyền thẳng và sự phản xạ của ánh sáng theo định lý Snell mà ánh sáng được truyền đến nơi thu như mong muốn.
Nơi thu sẽ giải điều chế tín hiệu nhận được cùng với các cơ chế đồng bộ để nhận được thông tin. - Hai loại cáp quang chính đang được sử dụng: Loại đa mode (multimode fiber): Khi góc tới thành dây dẫn lớn đến một mức giới hạn thì dẫn tới hiện tượng phản xạ toàn phần. Các cáp quang đa mode có đường kính lõi khoảng 50 µm. Loại đơn mode (singlemode fiber): Khi đường kính dây dẫn bằng bước sóng thì cáp quang như một ống dẫn sóng, không có hiện tượng phản xạ trong sợi quang mà chỉ có truyền thẳng.
Loại này có đường kính khoảng 9-10 µm và phải dùng nguồn phát là diode laser. Cáp quang đơn mode có thể cho phép truyền xa tới hàng trăm km mà không cần phải khuếch đại, do đó mà kỹ thuật đòi hỏi cũng rất cao. 7 Luận văn tốt nghiệp - Một vài ưu điểm vượt trội của cáp quang: Dung lượng lớn: Các sợi quang có khả năng truyền một lượng lớn thông tin. Với công nghệ hiện nay, trên hai sợi quang có thể truyền được đồng thời 60.000 cuộc đàm thoại.
Một cáp sợi quang (có đường kính ngoài 2cm) có thể chứa được khoảng 200 sợi quang, nâng được dung lượng đường truyền lên đến 6.000 cuộc đàm thoại. So với các phương tiện truyền dẫn bằng dây thông thường, một cáp lớn gồm nhiều đôi dây có thể truyền được 500 cuộc đàm thoại, một cáp đồng trục có khả năng với 10.000 cuộc đàm thoại và một tuyến viba hay vệ tinh có thể mang được 2000 cuộc gọi đồng thời. Kích thước và trọng lượng nhỏ: So với một cáp đồng có cùng dung lượng, cáp sợi quang có đường kính nhỏ hơn và khối lượng nhẹ hơn nhiều. Do đó, cáp quang dễ lắp đặt hơn; đặc biệt, ở những vị trí khó lắp đặt (như trong các đường ống đứng trong các tòa nhà) có rất ít khoảng không nhưng lại cần đi nhiều đường tín hiệu ở bên trong, thì cáp quang sẽ dễ dàng đáp ứng được.
Không bị nhiễu điện từ: Truyền dẫn bằng sợi quang không bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện từ (EMI) hay nhiễu tần số vô tuyến (RFI) và nó không tạo ra bất kỳ sự nhiễu nội tại nào. Sợi quang có thể cung cấp một đường truyền “sạch” ở những môi trường khắc nghiệt nhất. Các công ty điện lực sử dụng cáp quang dọc theo các đường dây điện cao thế để cung cấp đường thông tin rõ ràng giữa các trạm biến áp. Cáp sợi quang cũng không bị xuyên âm, thậm chí dù ánh sáng bị bức xạ ra từ một sợi quang thì nó không thể thâm nhập vào sợi quang khác.
Tính cách điện: Sợi quang được làm bằng vật liệu cách điện. Cáp sợi quang làm bằng chất điện môi thích hợp không chứa vật dẫn điện và có thể cho phép cách điện hoàn toàn. Nó có thể loại bỏ được nhiễu gây bởi các dòng điện chạy vòng dưới đất hay những trường hợp nguy hiểm gây bởi sự phóng điện trên các đường dây thông tin như sét hay những trục trặc về điện. Đây thực sự là một đặc tính an toàn của cáp quang.
Tính bảo mật: Sợi quang cung cấp độ bảo mật thông tin cao. Một sợi quang không thể bị trích để lấy trộm thông tin bằng các phương tiện điện thông 8 Luận văn tốt nghiệp thường như sự dẫn điện trên bề mặt hay cảm ứng điện từ và rất khó trích để lấy thông tin ở dạng tín hiệu quang. Các tia sáng truyền lan ở tâm sợi quang và rất ít hoặc không có tia nào thoát khỏi sợi quang đó. Thậm chí, nếu đã trích vào sợi quang được rồi thì nó có thể bị phát hiện nhờ kiểm tra công suất ánh sáng thu được tại đầu cuối.
Trong khi các tín hiệu thông tin vệ tinh và viba có thể dễ dàng thu để giải mã được. Độ tin cậy cao và dễ bảo dưỡng: Sợi quang là một phương tiện truyền dẫn đồng nhất và không gây ra hiện tượng fading. Những tuyến cáp quang được thiết kế thích hợp có thể chịu đựng được những điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm khắc nghiệt và thậm chí có thể hoạt động ở dưới nước. Sợi quang có thời gian hoạt động lâu, ước tính trên 30 năm đối với một số cáp thông thường.
Yêu cầu về bảo dưỡng đối với một hệ thống cáp quang là ít hơn so với yêu cầu của một hệ thống thông thường do cần ít bộ lặp điện hơn trong một tuyến thông tin; trong cáp không có dây đồng - là yếu tố có thể bị mòn dần và gây ra mất hoặc lúc có lúc không có tín hiệu. Cáp quang cũng không bị ảnh hưởng bởi sự ngắn mạch, sự tăng vọt điện áp nguồn hay tĩnh điện. Tính linh hoạt: Các hệ thống thông tin quang đều khả dụng cho hầu hết các dạng thông tin số liệu, thoại và video. Các hệ thống này đều có thể tương thích với các chuẩn RS.S5, Ethernet, Arcnet, FDDI, Tl, T2, TS, Sonet, thoại 2/4 dây, tín hiệu E/M, video tổng hợp và còn nhiều nữa.
Tính mở rộng: Các hệ thống sợi quang được thiết kế thích hợp có thể dễ dàng được mở rộng khi cần thiết. Một hệ thống dùng cho tốc độ số liệu thấp, ví dụ T1 (1.544Mb/s) có thể được nâng cấp trở thành một hệ thống tốc độ số liệu cao hơn, OC-12 (622 Mb/s), bằng cách thay đổi các thiết bị điện tử. Hệ thống cáp các sợi quang có thể vẫn được giữ nguyên như cũ. Sự tái tạo tín hiệu: Công nghệ ngày nay cho phép thực hiện những đường truyền thông bằng cáp quang dài trên 70 km trước khi cần tái tạo lại tín hiệu, khoảng cách này còn có thể tăng lên tới 150 km nhờ sử dụng các bộ khuếch đại lazer.
Trong tương lai, công nghệ có thể mở rộng để tăng khoảng cách này lên 9 Luận văn tốt nghiệp tới 200 km và có thể 1000 km. Chi phí tiết kiệm được rất nhiều do sử dụng ít các bộ lặp trung gian và việc bảo dưỡng. Ngược lại, các hệ thống cáp điện thông thường cứ vài km có thể đã cần có một bộ lặp. - Một vài nhược điểm của cáp quang: Vấn đề biến đổi điện-quang : Trước khi đưa một tín hiệu thông tin điện vào sợi quang, tín hiệu điện đó phải được biến đổi thành sóng ánh sáng.
Dòn, dễ gãy: Sợi quang sử dụng trong viễn thông được chế tạo từ thủy tinh nên dòn và dễ gãy. Hơn nữa kích thước sợi nhỏ nên việc hàn nối gặp nhiều khó khăn.