Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây Bồ đề (Styrax tonkinensis) là loài cây gỗ bản địa sinh trưởng nhanh, thích hợp trên các vùng đất dốc, có tác dụng phòng hộ, bảo vệ đất chống xói mòn và mang lại giá trị kinh tế cho công tác trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, diện tích rừng trồng Bồ đề đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế lâm nghiệp của người dân địa phương. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2011–2012 và các năm tiếp theo, tình hình sâu hại bùng phát đã đe dọa nghiêm trọng đến diện tích rừng này. Theo số liệu của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Phú Thọ, sâu xanh ăn lá xuất hiện gây hại trên các lâm phần Bồ đề 3–5 tuổi tại các xã Kim Thượng, Xuân Đài, Long Cốc, Đồng Sơn với mật độ sâu non trung bình từ 5–10 con/cây (nơi cao lên tới 20–30 con/cây), tỷ lệ hại lá trung bình 15–20% (cao từ 30–45%), diện tích nhiễm dịch chiếm 497 ha trên tổng số 766 ha (trong đó nhiễm nặng là 275 ha, nhiễm trung bình là 222 ha). Trước thực trạng đó, việc điều tra thành phần loài sâu hại và thử nghiệm các giải pháp phòng trừ có căn cứ khoa học là yêu cầu cấp thiết.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:

    • Xác định được thành phần các loài sâu hại cây Bồ đề và xác định loài sâu hại chính tại khu vực nghiên cứu.
    • Xác định đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại chính.
    • Thử nghiệm và đề xuất các biện pháp phòng trừ tổng hợp thích hợp cho loài sâu hại chính.
  2. Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu:

    • Điều tra, thống kê thành phần loài và phân bố của các loài sâu hại cây Bồ đề.
    • Nghiên cứu một số đặc tính sinh học, tập tính và biến động mật độ của các loài sâu hại chính.
    • Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ: kỹ thuật lâm sinh, vật lý cơ giới, bẫy đèn và hóa học.
    • Đề xuất các biện pháp quản lý tổng hợp sâu hại Bồ đề tại địa phương.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Các loài sâu hại trên cây Bồ đề (Styrax tonkinensis), trọng tâm là các loài sâu hại chính gây nguy cơ dịch.
    • Phạm vi không gian: Rừng trồng Bồ đề tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ (bố trí 06 ô tiêu chuẩn đại diện ở 2 hướng phơi Đông Bắc và Tây Bắc, thuộc các vị trí chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi).
    • Phạm vi thời gian: Đợt điều tra thực địa và thử nghiệm diễn ra trong tháng 3 và tháng 4 năm 2015, chia làm 3 đợt thu thập số liệu (Đợt 1: 25/3/2015 – 30/3/2015; Đợt 2: 09/4/2015 – 13/4/2015; Đợt 3: 20/4/2015 – 23/4/2015).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên các cơ sở phân loại học côn trùng, sinh thái học côn trùng rừng và quy chuẩn điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại cây rừng:

  • Khung lý thuyết và phân loại:

    • Sử dụng hệ thống phân loại côn trùng thuộc các bộ Cánh thẳng (Orthoptera), Cánh bằng (Isoptera), Cánh vảy (Lepidoptera), Cánh cứng (Coleoptera) theo các tài liệu chuyên ngành của Keppen, Bey-Bienko, Ilinski, Trần Công Loanh và Nguyễn Thế Nhã.
    • Cơ sở sinh thái học côn trùng rừng nhiệt đới: Côn trùng hoạt động bình thường ở dải nhiệt độ 10–35°C (thích hợp nhất 20–30°C) và độ ẩm 70–100% (thích hợp nhất 80–90%).
    • Phân loại thảm thực vật theo GS.TS. Thái Văn Trừng (rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu thực địa:

    • Lập ô tiêu chuẩn (OTC): Bố trí 06 OTC có diện tích từ 500–2500 m² (mỗi ô chứa >100 cây), đại diện cho các điều kiện địa hình (chân, sườn, đỉnh đồi), hướng dốc (Đông Bắc, Tây Bắc) và cấp tuổi cây (tuổi 3, 4, 5).
    • Chọn cây tiêu chuẩn: Áp dụng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống (cách một hàng điều tra một hàng, trong hàng cứ 5 cây chọn 1 cây; mỗi OTC chọn 10 cây tiêu chuẩn để đánh dấu, đo đếm đường kính $D_{1.3}$, chiều cao vút ngọn $H_{vn}$).
    • Phương pháp điều tra sâu hại tán lá: Trên mỗi cây tiêu chuẩn, chọn 4 cành tiêu chuẩn để đếm số lượng cá thể ở các pha phát triển (trứng, sâu non các tuổi 1–5, nhộng, trưởng thành).
    • Phương pháp điều tra mức độ hại lá: Chọn 4 cành/cây, mỗi cành ngắt 6 lá (2 lá gốc, 2 lá giữa, 2 lá ngọn) để phân cấp hại theo diện tích lá bị tổn thương (cấp 0 đến cấp IV).
    • Phương pháp điều tra sâu hại thân, cành: Quan sát dấu vết, chẻ các cành/ngọn bị hại để thu bắt sâu.
    • Phương pháp điều tra sâu hại dưới đất: Lập 5 ô dạng bản diện tích 1 m² (ở 4 góc và 1 ở tâm OTC), bới lớp thảm mục và cuốc xới từng lớp đất sâu 10 cm, bóp mịn đất để bắt sâu non, nhộng và sâu trưởng thành.
    • Phương pháp thu bắt, xử lý và giám định mẫu: Bắt sâu bằng tay, dùng vợt bắt bướm, đào đất; nuôi sống các pha sâu non chưa định danh; làm tiêu bản cánh vảy; đối chiếu tài liệu và giám định chuyên môn tại Bộ môn Bảo vệ thực vật rừng – Đại học Lâm nghiệp.
    • Phương pháp thử nghiệm phòng trừ: Thiết lập các ô thí nghiệm và ô đối chứng song song nhằm kiểm tra hiệu quả của biện pháp kỹ thuật lâm sinh (cuốc xới, vun gốc bán kính 50 cm, dọn thực bì), biện pháp cơ giới (bắt giết trực tiếp), biện pháp bẫy đèn dầu ban đêm và biện pháp hóa học (phun thuốc Neretox trộn vôi bột, thuốc Dipterex).
  • Phương pháp tính toán và xử lý số liệu thống kê:

    • Mật độ sâu hại: $M = \frac{\sum a_i}{N}$ (trong đó $a_i$ là số sâu trên cây/ô dạng bản thứ $i$, $N$ là tổng số cây/ô điều tra).
    • Tỷ lệ cây có sâu: $P% = \frac{n}{N} \times 100%$ ($n$ là số cây có sâu). Phân bố đều khi $P% > 50%$, không đều khi $P% = 25–50%$, ngẫu nhiên khi $P% < 25%$.
    • Mức độ hại lá: $R% = \frac{\sum (n_i \times v_i)}{N \times V} \times 100%$ ($v_i$ là cấp hại từ 0–4, $V = 4$). Phân cấp: $R% \le 25%$ (hại nhẹ), $26–50%$ (hại vừa), $51–75%$ (hại nặng), $>75%$ (rất nặng).
    • Kiểm định sai khác mật độ giữa các vị trí địa hình và cấp tuổi cây bằng tiêu chuẩn $|U|$ (với ngưỡng so sánh ở mức ý nghĩa thống kê là 1,96).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này trình bày lịch sử và thực trạng nghiên cứu côn trùng học lâm nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Trên thế giới: Dẫn liệu các công trình từ thời cổ đại (Aristoteles hệ thống hóa 60 loài), Carl von Linnaeus (xây dựng hệ thống phân loại sinh vật qua 10 lần xuất bản), các công trình của Lamarck, Handlirsch, Keppen, Volka & Sonkling (thống kê 240.000 loài Cánh cứng trong 31 tập), Ilinski, Ionescu (24.000 loài bọ lá Chrysomelidae), Bey-Bienko (mô tả 300.000 loài Cánh cứng), Trương Chấp Trung (Sâm lâm côn trùng học, 1959), Thái Bang Hoa & Cao Thu Lâm (Côn trùng rừng Vân Nam, 1987).
  • Tại Việt Nam: Lược sử từ các đoàn thám hiểm Mission Pavie (1897–1904 thu thập 1.020 loài côn trùng), Vitalis de Salvaza (1921 công bố 3.612 loài), các giáo trình và công trình của Đặng Vũ Cẩn (1973), Trần Công Loanh (1989), Trần Công Loanh – Nguyễn Thế Nhã – Trần Văn Mão (2001), Nguyễn Thế Nhã (2009–2011), Phạm Quang Thu.
  • Nghiên cứu về cây Bồ đề và sâu hại Bồ đề: Nêu đặc điểm hình thái thực vật của cây Bồ đề (cây gỗ cao 18–20 m, đường kính 20–25 cm, tán thưa, vỏ mỏng). Nêu rõ sâu xanh ăn lá Bồ đề (Fentonia sp.) lần đầu tiên được nghiên cứu hoàn chỉnh ở Việt Nam bởi Lê Nam Hùng, sau đó được tổng hợp trong công trình của Trần Công Loanh và Nguyễn Thế Nhã (1997).
  • Tình hình phát dịch: Ghi nhận dịch sâu hại Bồ đề tại Lục Yên (Yên Bái) với diện tích nhiễm tăng từ 5 ha lên gần 20 ha trong 1 tuần; dịch sâu lạ phá hơn 100 ha tại Bảo Yên (Lào Cai); và dịch sâu xanh ăn lá gây hại 497 ha rừng Bồ đề tại Vườn quốc gia Xuân Sơn trong các năm 2011–2012.

Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này thiết lập phương pháp luận và các bước điều tra dã ngoại, thống kê chi tiết đặc điểm 06 ô tiêu chuẩn nghiên cứu:

Số OTC Hướng dốc Độ dốc (độ) Vị trí địa hình Tuổi cây (năm) Số cây trong OTC $D_{1.3}$ trung bình (cm) $H_{vn}$ trung bình (m) Loại đất Thực bì
1 Đông – Bắc 12,0 Chân đồi 4 117 6,5 7,0 Feralit đỏ vàng Cỏ ranh, mua, cây phân xanh
2 Đông – Bắc 15,0 Sườn đồi 3 110 7,5 7,5 Feralit đỏ vàng Cỏ ranh, mua, cây phân xanh
3 Tây – Bắc 16,0 Đỉnh đồi 3 109 9,0 8,5 Feralit đỏ vàng Cỏ ranh, mua, cây phân xanh
4 Tây – Bắc 14,5 Sườn đồi 5 120 9,5 8,5 Feralit đỏ vàng Cỏ ranh, mua, cây phân xanh
5 Tây – Bắc 11,0 Chân đồi 5 107 8,0 9,0 Feralit đỏ vàng Cỏ ranh, mua, cây phân xanh
6 Tây – Bắc 18,0 Đỉnh đồi 4 123 9,0 8,0 Feralit đỏ vàng Cỏ ranh, mua, cây phân xanh

Chương 2 cũng quy định cụ thể các biểu mẫu điều tra (Biểu 01 đến 05), kỹ thuật ngắt lá, chẻ cành, đào ô dạng bản $1\text{ m}^2$, phương pháp bẫy đèn dầu, cách thức bố trí ô thí nghiệm và ô đối chứng, cùng hệ thống công thức toán học tính toán chỉ tiêu $M, P%, R%$ và kiểm định sai khác mật độ $|U|$.

Chương 3: Đặc điểm cơ bản khu vực nghiên cứu

Chương này mô tả toàn diện điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu:

  • Vị trí, ranh giới: Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm ở phía Tây huyện Tân Sơn, tọa độ $21^\circ 03'$ đến $21^\circ 12'$ vĩ độ Bắc, $104^\circ 51'$ đến $105^\circ 01'$ kinh độ Đông; giáp xã Thu Cúc (Bắc), huyện Đà Bắc – Hòa Bình (Nam), huyện Phù Yên – Sơn La (Tây), xã Tân Phú (Đông).
  • Địa hình: Chia làm 3 kiểu: núi trung bình cao $\ge 700\text{ m}$ (chiếm 30% diện tích, đỉnh cao nhất là núi Voi 1.386 m); núi thấp và đồi $<700\text{ m}$ (chiếm 65% diện tích, sườn dốc $25^\circ - 30^\circ$, cao trung bình 400 m); thung lũng, lòng chảo (chiếm 5% diện tích).
  • Địa chất, thổ nhưỡng: Vùng phức nếp lồi đồi núi thấp sông Mua. Gồm 4 nhóm đất: Feralit có mùn trên núi trung bình (FeH, 700–1.368 m), Feralit đỏ vàng đồi núi thấp (Fe, dưới 700 m), Đất Rendzina/Rangin (vùng đá vôi) và Đất dốc tụ, phù sa thung lũng (DL).
  • Khí hậu, thủy văn: Nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm $22,5^\circ\text{C}$ (tối cao tuyệt đối $40,7^\circ\text{C}$, tối thấp tuyệt đối $0,5^\circ\text{C}$). Lượng mưa trung bình $1.826\text{ mm}$ (mùa mưa chiếm 90% từ tháng 4–10). Độ ẩm không khí trung bình $86%$. Hệ thống suối Thân, suối Thang, suối Chiềng đổ ra sông Vèo và sông Dày, hợp lưu tại Minh Đài rồi chảy ra sông Hồng.
  • Hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật: Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp và á nhiệt đới. Khu hệ động vật có 370 loài thuộc 94 họ, 25 bộ (gồm 94 loài thú, 223 loài chim, 30 loài bò sát, 23 loài ếch nhái); có 51 loài quý hiếm ghi trong Sách đỏ Việt Nam.
  • Dân sinh, kinh tế: 29 thôn thuộc 6 xã với 12.559 nhân khẩu (2.908 hộ; vùng lõi có 2.984 người thuộc 794 hộ). Dân tộc Mường chiếm 79,9%, dân tộc Dao chiếm 18,7%, dân tộc Kinh chiếm 1,4%. Kinh tế chủ yếu sản xuất nông lâm nghiệp.

Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả

1. Thành phần các loài sâu hại cây Bồ đề

Qua điều tra thực địa kết hợp phỏng vấn cán bộ và người dân, đề tài đã lập danh lục thu thập được 5 loài sâu hại cây Bồ đề thuộc 4 bộ và 5 họ:

STT Tên Việt Nam Tên khoa học Họ côn trùng Bộ côn trùng Pha gây hại Bộ phận bị hại
1 Châu chấu Melanoplus sp. Acrididae Cánh thẳng (Orthoptera) Sâu trưởng thành Hại lá
2 Dế dũi Gryllotalpa orientalis Serville Gryllotalpidae Cánh thẳng (Orthoptera) Sâu trưởng thành Hại rễ
3 Sâu xanh ăn lá Bồ đề Fentonia sp. Notodontidae Cánh vảy (Lepidoptera) Nhộng, sâu non, trưởng thành Hại lá
4 Bọ hung nâu lớn Holotrichia sauteri Mauser Scarabaeidae Cánh cứng (Coleoptera) Sâu non, trưởng thành Hại rễ, hại lá
5 Mối Macrotermes andalei Silvestri Termitidae Cánh bằng (Isoptera) Sâu trưởng thành Hại thân, rễ

Cơ cấu phân bố theo bộ: Bộ Cánh thẳng chiếm 2 họ (40%) và 2 loài (40%); các bộ Cánh bằng, Cánh vảy, Cánh cứng mỗi bộ chiếm 1 họ (20%) và 1 loài (20%). Phân chia theo nhóm gây hại: Sâu hại rễ chiếm 50% (3 loài), sâu hại lá chiếm 33,33% (2 loài), sâu hại thân chiếm 16,67% (1 loài).

2. Xác định các loài sâu hại chủ yếu

Căn cứ vào mật độ trung bình, tỷ lệ cây có sâu ($P%$), số lần xuất hiện (SLXH) qua 3 đợt điều tra và lịch sử phát dịch, tác giả xác định 2 loài sâu hại chủ yếu là Sâu xanh ăn lá Bồ đề (Fentonia sp.) và Bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri Mauser):

STT Loài côn trùng Pha phát triển Mật độ Đợt 1 Mật độ Đợt 2 Mật độ Đợt 3 MĐTB Tỷ lệ $P%$ Sai số $S%$ SLXH
1 Sâu xanh ăn lá Bồ đề Trứng (quả/cây) 4,40 5,80 7,05 5,75 65,00 32,88 3
Sâu non (con/cây) 1,25 1,30 1,65 1,40 65,00 30,64 3
Nhộng (con/cây) 0,55 0,50 0,60 0,55 36,67 9,96 3
Trưởng thành (con/cây) 0,45 0,60 0,80 0,62 35,00 29,60 3
2 Châu chấu Trưởng thành (con/cây) 1,30 0,80 0,80 0,97 50,00 30,35 3
3 Dế dũi Trưởng thành (con/$\text{m}^2$) 0,30 0,50 0,60 0,47 36,67 58,14 3
4 Bọ hung nâu lớn Sâu non (con/$\text{m}^2$) 0,30 0,25 0,35 0,30 30,00 42,16 2
Trưởng thành (con/$\text{m}^2$) 0,30 0,25 0,25 0,27 26,67 19,17 3

3. Đặc điểm sinh học và biến động mật độ của các loài sâu hại chủ yếu

  • Sâu xanh ăn lá Bồ đề:
    • Hình thái: Trưởng thành dài 20–25 mm, phủ lông, râu hình lông chim; vũ hóa màu rêu phớt trắng chuyển dần sang xanh lục. Nhộng màu nâu cánh gián nằm trong kén tơ kết vụn lá ở lớp đất 0–2 cm. Sâu non có 4 tuổi (tuổi 1–2 trắng xanh, tuổi 3–4 xanh lục có vạch vàng ngang đỉnh đầu và 2 vạch vàng dọc lưng). Trứng hình bán cầu, đổi từ trắng ngà sang hồng và hồng loang lổ.
    • Tập tính: Trưởng thành hoạt động ban đêm (mạnh nhất 20–21 giờ), đẻ trung bình 120 trứng (lúc dịch suy thoái đẻ ~100 trứng), thọ 7–10 ngày. Sâu non tuổi 1 sống bầy đàn, tuổi 2–4 sống phân tán, cắn phá mạnh ở tuổi 3–4, ưa ăn lá bánh tẻ.
  • Bọ hung nâu lớn:
    • Hình thái: Trưởng thành dài 22–24 mm, rộng ngực 11–13 mm, màu nâu sẫm hoặc nhạt, mép ngoài đốt ống chân trước có 3 gai, bụng có 8 đốt. Nhộng dài 23–25 mm, màu nâu vàng. Trứng dài 1,5 mm màu trắng xám.
    • Tập tính: Trưởng thành sống ở độ sâu 10–20 cm dưới đất, tuổi thọ 6–7 tháng; ban ngày ẩn dưới đất, chập tối bay lên ăn lá, gần sáng chui xuống. Sâu non cắn rễ cây ban đêm.
  • Biến động mật độ theo thời gian và địa hình:
    • Theo đợt điều tra: Mật độ trưởng thành sâu xanh tăng từ 0,45 (Đợt 1) lên 0,60 (Đợt 2) và 0,80 con/cây (Đợt 3) do thời tiết ấm dần. Mật độ bọ hung nâu lớn dao động nhẹ (0,30 xuống 0,25 con/cây).
    • Theo vị trí địa hình: Mật độ sâu xanh cao nhất ở sườn đồi (1,55 con/cây), chân đồi (1,50 con/cây) và thấp nhất ở đỉnh đồi (1,15 con/cây). Bọ hung nâu lớn ở sườn đồi là 0,40 con/$\text{m}^2$, chân đồi 0,30 con/$\text{m}^2$, đỉnh đồi 0,20 con/$\text{m}^2$.
    • Kiểm định tiêu chuẩn $|U|$ theo địa hình: Giữa Chân – Sườn ($|U| = 0,11$), Chân – Đỉnh ($|U| = 0,78$), Sườn – Đỉnh ($|U| = 0,97$) đối với sâu xanh đều có $|U| < 1,96$, chứng minh sự sai khác mật độ theo địa hình không có ý nghĩa thống kê do đồi núi thấp có điều kiện sinh thái tương đối đồng nhất.
  • Biến động mật độ theo cấp tuổi cây:
    • Mật độ sâu xanh tăng rõ rệt theo cấp tuổi: Tuổi 3 đạt 0,70 con/cây; Tuổi 4 đạt 1,30 con/cây; Tuổi 5 đạt 1,70 con/cây.
    • Kiểm định $|U|$ giữa Tuổi 3 – Tuổi 5 đạt 2,23 ($> 1,96$), khẳng định mật độ sâu xanh ăn lá ở rừng 5 tuổi cao hơn hẳn rừng 3 tuổi do diện tích tán lá rộng và nguồn thức ăn dồi dào. Bọ hung nâu lớn có $|U| = 1,91$ giữa Tuổi 3 – Tuổi 5.
  • Đánh giá mức độ hại lá: Chỉ số $R%$ tại 6 OTC lần lượt là 14,96% (OTC1), 11,15% (OTC2), 12,69% (OTC3), 18,37% (OTC4), 25,95% (OTC5), 27,84% (OTC6); giá trị trung bình toàn khu vực là $R% = 18,49%$ (mức độ bị hại nhẹ đến vừa trong thời điểm điều tra).

4. Kết quả thử nghiệm các biện pháp phòng trừ

  • Biện pháp kỹ thuật lâm sinh (cuốc xới, vun gốc, dọn thực bì):
Thời gian theo dõi Ô thí nghiệm: Số cây có sâu Ô thí nghiệm: Tỷ lệ $P%$ Ô đối chứng: Số cây có sâu Ô đối chứng: Tỷ lệ $P%$
Trước khi áp dụng 11 36,67% 14 46,67%
Sau 10 ngày 8 26,67% 14 46,67%
Sau 20 ngày 7 23,33% 15 50,00%
  • Biện pháp vật lý cơ giới (bắt giết trực tiếp sâu, nhộng):
Thời gian theo dõi Ô thí nghiệm: Số cây có sâu Ô thí nghiệm: Tỷ lệ $P%$ Ô đối chứng: Số cây có sâu Ô đối chứng: Tỷ lệ $P%$
Trước khi áp dụng 14 46,67% 15 50,00%
Sau 10 ngày 9 30,00% 17 56,67%
Sau 20 ngày 6 20,00% 18 60,00%
  • Biện pháp bẫy đèn: Thử nghiệm trong 3 đợt tại 3 địa điểm chỉ thu bắt được từ 1 đến 7 cá thể bướm sâu xanh/đêm do thời điểm khảo sát không trùng đợt bùng phát dịch (trong các đợt dịch trước đây, người dân thu bắt được 15–20 kg bướm/ha).
  • Biện pháp hóa học (phun thuốc Neretox trộn vôi bột):
Thời gian theo dõi Ô thí nghiệm: Số cây có sâu Ô thí nghiệm: Tỷ lệ $P%$ Ô đối chứng: Số cây có sâu Ô đối chứng: Tỷ lệ $P%$
Trước khi áp dụng 21 70,00% 19 63,33%
Sau 5 ngày 9 30,00% 18 60,00%
Sau 10 ngày 4 13,33% 19 63,33%

5. Đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại Bồ đề

Tác giả đề xuất quy trình quản lý sâu bệnh tổng hợp thích ứng với địa phương:

  1. Kỹ thuật lâm sinh: Trồng đúng mật độ kỹ thuật từ 1.200 – 1.400 cây/ha; kiểm tra phát hiện sâu trước khi trồng; phát dọn thực bì hợp lý, định kỳ tỉa cành; xúc tiến trồng rừng hỗn giao thay vì thuần loài; định kỳ cày xới đất quanh gốc để phá hủy kén nhộng và nơi cư trú của bọ hung.
  2. Vật lý cơ giới: Bắt giết nhộng dưới đất, bẻ ổ trứng và cành bị hại; sử dụng bẫy đèn (đèn măng xông, ắc quy) thu bắt bướm khi có dịch; dùng 2 vòng dính/cây đặt vào sáng sớm và thu hồi lúc trưa để bẫy sâu non bò lên thân cây.
  3. Biện pháp sinh học: Bảo vệ các loài chim ăn sâu (chim sâu, chim gõ kiến); duy trì bảo vệ côn trùng bắt mồi và ký sinh; bảo tồn các tổ kiến tự nhiên. Dẫn liệu kiểm chứng: 1 tổ kiến vàng (Oecophylla) tiêu diệt 201 sâu non trong 2 ngày; 1 tổ kiến Crematogaster tiêu thụ 801 trứng sâu trong 2 ngày.
  4. Biện pháp hóa học: Tuân thủ nguyên tắc "4 đúng" (đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng nồng độ, đúng phương pháp), chỉ phun thuốc khi bùng dịch quy mô lớn. Đối với sâu xanh ăn lá: dùng 50–60 gói Neretox trộn 20–30 kg vôi bột/ha phun lên tán lá, hoặc phun Fenitrothion nồng độ 1/200, Sherpa nồng độ 1/500 khi sâu ở tuổi nhỏ. Đối với bọ hung nâu lớn: xử lý đất vườn ươm bằng Vibasu 10H liều lượng 20–25 kg/ha; khi bọ trưởng thành xuất hiện nhiều thì phun thuốc Bassa (10–15 ml/bình 10 lít nước) vào lúc 17–18 giờ chiều.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả và đóng góp cụ thể:

  • Kết quả định lượng cụ thể:
    • Xác định danh lục 5 loài sâu hại Bồ đề thuộc 4 bộ và 5 họ, chia thành 3 nhóm gây hại (hại rễ 50%, hại lá 33,33%, hại thân 16,67%).
    • Xác định chính xác 2 loài sâu hại chủ yếu gồm Sâu xanh ăn lá (Fentonia sp., tỷ lệ gặp $P% = 65%$) và Bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri, tỷ lệ gặp $P% = 30%$).
    • Cung cấp số liệu định lượng về mật độ các pha phát triển của sâu xanh ăn lá (trứng 5,75 quả/cây; sâu non 1,40 con/cây; nhộng 0,55 con/cây; trưởng thành 0,62 con/cây).
    • Đánh giá chỉ số hại lá trung bình tại Vườn quốc gia Xuân Sơn đạt $R% = 18,49%$ (mức hại nhẹ đến vừa).
    • Chứng minh bằng kiểm định thống kê $|U| = 2,23 > 1,96$ rằng mật độ sâu xanh ăn lá tăng thuận theo cấp tuổi cây (từ 0,70 con/cây ở tuổi 3 lên 1,70 con/cây ở tuổi 5), trong khi vị trí địa hình đồi núi thấp không tạo ra sự phân hóa sai khác mật độ ($|U| < 1,96$).
  • Đóng góp thực nghiệm:
    • Chứng minh hiệu lực của 4 biện pháp phòng trừ qua số liệu đối chứng: biện pháp vật lý cơ giới hạ tỷ lệ cây bị sâu từ 46,67% xuống 20,00% sau 20 ngày; biện pháp hóa học hạ từ 70,00% xuống 13,33% sau 10 ngày; biện pháp kỹ thuật lâm sinh hạ từ 36,67% xuống 23,33%.
    • Xây dựng bảng hướng dẫn kỹ thuật phòng trừ tổng hợp kết hợp bảo tồn thiên địch (đặc biệt là 2 nhóm kiến Oecophylla và Crematogaster) với liều lượng và thời điểm sử dụng hóa chất cụ thể, giúp giảm thiểu chi phí và bảo vệ môi trường sinh thái Vườn quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Thời gian nghiên cứu ngoài thực địa ngắn (tháng 3 đến tháng 4 năm 2015), rơi vào thời điểm đầu vụ xuân khi mật độ sâu hại chưa phát triển cực đại, do đó chưa ghi nhận được đầy đủ các đợt bùng phát dịch lớn trong năm.
    • Số lượng loài sâu hại thu thập được còn hạn chế (5 loài) do các năm trước đó người dân đã sử dụng thuốc hóa học dập dịch trên diện rộng, làm suy giảm quần thể côn trùng trong khu vực.
    • Thử nghiệm bẫy đèn bắt bướm chưa đem lại sản lượng cá thể cao do không tiến hành trong giai đoạn bùng dịch.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục theo dõi điều tra mở rộng vào các tháng mùa hè và mùa mưa (tháng 5 đến tháng 9) để đánh giá toàn diện chu kỳ phát sinh các lứa sâu trong năm.
    • Thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về vòng đời, pha phát triển của Fentonia sp. và Holotrichia sauteri trong điều kiện phòng thí nghiệm kết hợp thực địa.
    • Nghiên cứu định danh cụ thể các loài ong ký sinh và vi sinh vật gây bệnh bản địa nhằm phát triển các chế phẩm sinh học diệt sâu xanh ăn lá Bồ đề.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Bảo vệ thực vật: Tham khảo phương pháp bố trí ô tiêu chuẩn, quy trình điều tra phân tầng từ tán lá, thân cành đến lớp đất mặt, và phương pháp ứng dụng tiêu chuẩn $|U|$ để kiểm định sai khác số liệu sinh học côn trùng.
  • Cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp, Trạm Bảo vệ thực vật và Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn: Sử dụng tài liệu làm cơ sở dữ liệu tra cứu thành phần loài sâu hại Bồ đề, theo dõi biến động mật độ theo cấp tuổi cây và áp dụng các thông số kỹ thuật (mật độ trồng 1.200–1.400 cây/ha, tỷ lệ pha chế thuốc Neretox, Sherpa, Vibasu 10H) vào công tác quản lý dịch hại rừng trồng.
  • Hộ gia đình trồng rừng Bồ đề: Áp dụng các giải pháp cơ giới đơn giản, ít tốn kém như xới xáo đất diệt nhộng, đặt vòng dính thân cây và bảo vệ tổ kiến thiên địch để quản lý sâu hại bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã xác định những loài sâu hại chủ yếu nào trên cây Bồ đề tại Vườn quốc gia Xuân Sơn?
Tác giả đã xác định được 2 loài sâu hại chủ yếu là Sâu xanh ăn lá Bồ đề (Fentonia sp.) thuộc họ Notodontidae (bộ Cánh vảy) và Bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri Mauser) thuộc họ Scarabaeidae (bộ Cánh cứng). Hai loài này có tần suất xuất hiện cao, mật độ cá thể lớn và có lịch sử phát dịch làm trụi lá, cắn phá rễ rừng Bồ đề tại địa phương.

2. Mật độ sâu xanh ăn lá Bồ đề biến động như thế nào theo các cấp tuổi của cây?
Mật độ sâu non tăng dần theo cấp tuổi cây: ở rừng 3 tuổi là 0,70 con/cây, rừng 4 tuổi là 1,30 con/cây, và rừng 5 tuổi đạt 1,70 con/cây. Kết quả kiểm định tiêu chuẩn $|U|$ giữa cấp tuổi 3 và tuổi 5 đạt giá trị $2,23 > 1,96$, chứng minh sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê do cây 5 tuổi có tán lá lớn, cung cấp nguồn thức ăn phong phú hơn cho sâu.

3. Hiệu quả giảm tỷ lệ cây có sâu của các biện pháp phòng trừ thử nghiệm đạt kết quả cụ thể ra sao?

  • Biện pháp hóa học (phun Neretox trộn vôi bột): giảm tỷ lệ cây có sâu từ 70,00% xuống còn 13,33% sau 10 ngày (ô đối chứng giữ mức 63,33%).
  • Biện pháp vật lý cơ giới (bắt giết trực tiếp): giảm từ 46,67% xuống còn 20,00% sau 20 ngày (ô đối chứng tăng từ 50,00% lên 60,00%).
  • Biện pháp kỹ thuật lâm sinh (cuốc xới, vun gốc, dọn thực bì): giảm từ 36,67% xuống còn 23,33% sau 20 ngày (ô đối chứng tăng từ 46,67% lên 50,00%).

4. Dẫn liệu định lượng về khả năng diệt trừ sâu hại của các loài kiến thiên địch được nêu trong khóa luận là gì?
Khóa luận chỉ ra rằng sâu xanh có khoảng 20 loài kẻ thù tự nhiên. Trong đó, một tổ kiến vàng (Oecophylla) sau 2 ngày có khả năng tiêu thụ hết 201 sâu non, và một tổ kiến Crematogaster sau 2 ngày có thể ăn hết 801 trứng sâu non.

5. Phương pháp điều tra sâu hại dưới đất được tác giả tiến hành với quy cách như thế nào?
Tác giả lập 5 ô dạng bản có diện tích $1\text{ m}^2$ trong mỗi ô tiêu chuẩn (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở tâm). Tại mỗi ô, tiến hành bới thảm mục và nhổ cỏ trên bề mặt, sau đó dùng cuốc đào từng lớp đất sâu 10 cm, dùng tay bóp mịn đất để bắt các pha trứng, sâu non, nhộng và sâu trưởng thành cho đến khi không còn phát hiện sâu.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Ngọc Hòa đã hoàn thành việc điều tra, lập danh lục 5 loài sâu hại cây Bồ đề và xác định 2 loài gây hại chủ yếu là Fentonia sp. và Holotrichia sauteri Mauser tại Vườn quốc gia Xuân Sơn. Nghiên cứu đã làm rõ đặc tính sinh học, biến động mật độ sâu hại theo thời gian, cấp tuổi cây, vị trí địa hình và mức độ hại lá trung bình ($R% = 18,49%$). Thông qua kết quả thử nghiệm thực địa 4 biện pháp phòng trừ, tác giả đã xây dựng hệ thống giải pháp quản lý dịch hại tổng hợp kết hợp kỹ thuật lâm sinh, bắt giết cơ giới, bảo tồn thiên địch và sử dụng hóa chất đúng nguyên tắc, mang lại giá trị thực tiễn cho công tác bảo vệ rừng Bồ đề tại địa phương.