Nghiên cứu thành phần và biện pháp quản lý sâu hại cây Bồ đề (Styrax tonkinensis)

Khám phá Lv10628, một sản phẩm độc đáo với tính năng vượt trội, mang đến trải nghiệm tuyệt vời cho người dùng. Tìm hiểu ngay hôm nay!

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

55
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái quát về tính hình nghiên cứu côn trùng trên thế giới

1.2. Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng ở Việt Nam

1.3. Cây Bồ đề và tình hình nghiên cứu sâu hại cây Bồ đề

1.3.1. Thông tin chung về cây Bồ đề

1.3.2. Những nghiên cứu về sâu hại cây Bồ đề

1.3.3. Tình hình sâu hại cây Bồ đề

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu

2.2. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Công tác chuẩn bị

2.4.2. Điều tra thực địa

3. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Địa hình địa thế

3.1.3. Địa chất, đất đai

3.1.4. Khí hậu thủy văn

3.1.5. Thảm thực vật, động vật

3.2. Đặc điểm về dân cư – kinh tế

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

4.1. Thành phần các loài sâu hại cây Bồ đề tại khu vực nghiên cứu

4.2. Xác định loài sâu hại chủ yếu trên cây Bồ đề

4.3. Đặc điểm sinh vật học của các loài sâu hại chủ yếu

4.3.1. Đặc điểm hình thái và sinh học của loài sâu hại chủ yếu

4.3.2. Biến động mật độ các loài sâu hại chủ yếu

4.4. Kết quả thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ

4.4.1. Kết quả thử nghiệm biện pháp kỹ thuật lâm sinh

4.4.2. Kết quả thử nghiệm biện pháp vật lý cơ giới

4.4.3. Kết quả thử nghiệm biện pháp bẫy đèn

4.4.4. Kết quả thử nghiệm biện pháp hóa học

4.4.5. Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại bồ đề

4.4.5.1. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh
4.4.5.2. Biện pháp vật lý cơ giới
4.4.5.3. Biện pháp sinh học
4.4.5.4. Sử dụng thuốc hóa học

KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu sâu hại cây Bồ đề tại Vườn quốc gia Xuân Sơn

Nghiên cứu về sâu hại cây Bồ đề (Styrax tonkinensis) tại Vườn quốc gia Xuân Sơn là một vấn đề quan trọng trong quản lý tài nguyên rừng. Cây Bồ đề không chỉ có giá trị kinh tế mà còn đóng vai trò trong bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, sự phát triển của các loài sâu hại đã gây ra nhiều thiệt hại cho cây trồng. Việc hiểu rõ về thành phần và đặc điểm sinh học của các loài sâu hại là cần thiết để đưa ra các biện pháp quản lý hiệu quả.

1.1. Thông tin chung về cây Bồ đề và vai trò của nó

Cây Bồ đề là loài cây gỗ trung bình, có khả năng sinh trưởng tốt trên các vùng đất dốc. Nó không chỉ cung cấp lâm sản mà còn giúp bảo vệ đất và chống xói mòn. Việc nghiên cứu về cây Bồ đề giúp xác định được giá trị kinh tế và sinh thái của loài cây này.

1.2. Tình hình sâu hại cây Bồ đề tại Việt Nam

Tình hình sâu hại cây Bồ đề tại Việt Nam đang ngày càng nghiêm trọng. Các loài sâu như sâu xanh ăn lá Bồ đề đã gây thiệt hại lớn cho diện tích rừng. Việc theo dõi và nghiên cứu tình hình sâu hại là cần thiết để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý sâu hại cây Bồ đề

Quản lý sâu hại cây Bồ đề tại Vườn quốc gia Xuân Sơn đang gặp nhiều thách thức. Sự bùng phát của các loài sâu hại không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn đe dọa đến sự tồn tại của cây Bồ đề. Các biện pháp phòng trừ hiện tại chưa đạt hiệu quả cao, cần có sự nghiên cứu và cải tiến.

2.1. Các loài sâu hại chính và tác động của chúng

Các loài sâu hại chính như sâu xanh ăn lá Bồ đề và bọ hung nâu lớn đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho cây Bồ đề. Mức độ gây hại của chúng cần được đánh giá để có biện pháp phòng trừ hiệu quả.

2.2. Những khó khăn trong việc phòng trừ sâu hại

Việc áp dụng các biện pháp phòng trừ hiện tại gặp nhiều khó khăn do sự phát triển nhanh chóng của sâu hại. Ngoài ra, việc thiếu thông tin và kinh nghiệm trong quản lý cũng là một thách thức lớn.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp quản lý sâu hại

Để quản lý hiệu quả sâu hại cây Bồ đề, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học và thực tiễn. Việc xác định thành phần sâu hại và đặc điểm sinh học của chúng là bước đầu tiên trong việc đề xuất các biện pháp phòng trừ.

3.1. Phương pháp điều tra và thu thập dữ liệu

Phương pháp điều tra thực địa được áp dụng để thu thập dữ liệu về thành phần và mật độ sâu hại. Các ô tiêu chuẩn được thiết lập để theo dõi sự biến động của sâu hại theo thời gian.

3.2. Đề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp

Các biện pháp phòng trừ tổng hợp bao gồm biện pháp kỹ thuật lâm sinh, vật lý cơ giới và hóa học. Việc kết hợp các biện pháp này sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại do sâu hại gây ra.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về sâu hại cây Bồ đề đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả có thể giảm thiểu thiệt hại. Các thử nghiệm cho thấy sự giảm mật độ sâu hại sau khi áp dụng các biện pháp phòng trừ.

4.1. Kết quả thử nghiệm các biện pháp phòng trừ

Các thử nghiệm cho thấy biện pháp kỹ thuật lâm sinh và vật lý cơ giới có hiệu quả trong việc giảm mật độ sâu hại. Cần tiếp tục theo dõi và đánh giá hiệu quả của các biện pháp này.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng vào thực tiễn quản lý rừng tại Vườn quốc gia Xuân Sơn. Việc áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả sẽ giúp bảo vệ cây Bồ đề và nâng cao năng suất rừng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu sâu hại

Nghiên cứu về sâu hại cây Bồ đề tại Vườn quốc gia Xuân Sơn đã chỉ ra tầm quan trọng của việc quản lý sâu hại trong bảo vệ tài nguyên rừng. Tương lai cần có những nghiên cứu sâu hơn để phát triển các biện pháp phòng trừ hiệu quả hơn.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu sâu hại

Nghiên cứu sâu hại không chỉ giúp bảo vệ cây Bồ đề mà còn góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững tài nguyên rừng.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu về các loài sâu hại mới và phát triển các biện pháp phòng trừ sinh học. Việc hợp tác giữa các nhà khoa học và quản lý rừng là cần thiết để đạt được hiệu quả cao nhất.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới, rừng và đất rừng chiếm 2/3 diện tích đất đai cả nƣớc. Rừng có vai trò rất quan trọng không thể thay thế đƣợc trong việc đáp ứng các nhu cầu của con ngƣời. Rừng cung cấp lâm sản, lƣơng thực, thực phẩm, làm sạch không khí, nguồn nƣớc, hạn chế lũ lụt, điều hòa dòng chảy, cung cấp oxi cho các loài sinh vật.Tuy nhiên cho đến nay diện tích rừng nƣớc ta đã và đang bị suy giảm một cách nhanh chóng về cả số lƣợng và chất lƣợng do nhiều nguyên nhân nhƣ: chặt phá rừng bừa bãi, sự gia tang dân số, thiên tai, lũ lụt, sự kinh doanh rừng không hợp lý. Bên cạnh đó do công tác quản lý rừng còn nhiều bất cập, nạn cháy rừng vẫn thƣờng xuyên xảy ra, sâu bệnh hại thƣờng xuyên gây dịch lớn ở nhiều nơi làm ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng và phát triển của cây rừng mà chúng ta chƣa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu.

Đứng trƣớc tình hình đó ngành lâm nghiệp đã có chủ trƣơng, chiến lƣợc đúng đắn nhằm đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ, sử dụng tài nguyên rừng hợp lý. Cây Bồ đề (Styrax tonkinensis) là loài cây dễ trồng, sinh trƣởng mạnh trên các vùng đất dốc, có khả năng bảo vệ đất, chống xói mòn, thời gian thu hoạch nhanh. Nhƣng hiện nay, cây Bồ đề thƣờng xuyên phải đối mặt với nhiều loài sâu hại làm ảnh hƣởng tới chất lƣợng của cây. Tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cây Bồ đề đã đƣợc trồng trên diện tích khá lớn nhằm phủ xanh đất trống và đem lại hiệu quả kinh tế cho ngƣời dân.

Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây sự sinh trƣởng và phát triển của cây Bồ đề đang gặp trở ngại không nhỏ, nguyên nhân là do sự bùng phát dịch của loài sâu xanh ăn lá Bồ đề đã khiến cho phần lớn diện tích rừng Bồ đề tại địa phƣơng bị ăn trụi lá. Ban quản lý rừng tại địa phƣơng đã ra sức phòng trừ dịch do sâu hại gây ra nhƣng mấy năm gần đây thì loại sâu này vẫn phát triển mà chƣa có biện pháp triệt để. Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần sâu hại bồ đề và đề xuất biện pháp quản lý sâu hại cây bồ đề (Styrax tonkinensis) tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”. 1 Chƣơng I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Côn trùng là lớp động vật phong phú nhất.Nó chiếm ⁄ tổng số loài trên trái đất.Trong đó loài côn trùng có ích chiếm 99% còn lại 1% côn trùng có hại.Sự phong phú về thành phần loài, số lƣợng cá thể trong loài và đa dạng về các loại sinh cảnh sống đã góp phần tạo ra tính đa dạng sinh vật trên trái đất [].

Điều này đã làm các nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu côn trùng và hiện đã có rất nhiều loài côn trùng đƣợc xuất bản, công bố. Khái quát về tính hình nghiên cứu côn trùng trên thế giới Ngay từ khi loài ngƣời mới xuất hiện, đặc biệt từ khi con ngƣời biết trồng trọt và chăn nuôi họ đã thấy đƣợc sự phá hoại nhiều mặt của côn trùng. Trong một cuốn sách cổ của Xêri viết vào năm 3000 TCN đã nói tới những cuộc bay khổng lồ và sự phá hoại rất lớn của những đàn châu chấu sa mạc. Trong các tác phẩm nghiên cứu của ông nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa đƣợc hơn 60 loài động vật chân có đốt.

Nhà tự nhiên học vĩ đại ngƣời Thụy Điển Carlvon Linnes đƣợc coi là ngƣời đầu tiên đã đƣa ra đơn vị phân loại và tập hợp xây dựng đƣợc một bảng phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng. Sách phân loại thiên nhiên của ông đã đƣợc xuất bản tới 10 lần. Liên tiếp các thế kỉ sau nhƣ thế kỉ XIX có Lamarck, thế kỉ XX có Handlirich, Krepton 1904, Ma-tƣ-nốp 1928, Weber 1938 tiếp tục cho ra những bảng phân loại côn trùng của họ. Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năm 1745.Hội côn trùng ở Nga đƣợc thành lập năm 1859.Nhà côn trùng Nga Keppen đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập nhiều đến côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng.

2 Năm 1910 – 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài in trong 31 tập. Trong đó đã đề cập đến hàng nghìn loài cánh cứng thuộc họ bọ lá Chrysomlidae. Ilinski đã xuất bản cuốn “Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng” trong đó đề cập đến phân loại một số loài bọ lá. Ionescu đã xuất bản cuốn “Côn trùng học” trong đó đề cập đến phân loại loài Họ Bọ lá Chrysomelidae.

Tác giả cho biết trên thế giới đã phát hiện đƣợc 24.000 loài bọ lá và tác giả đã miêu tả cụ thể đƣợc 14 loài. Năm 1966 Bey – Bienko đã phát hiện và mô tả đƣợc 300.000 loài côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng. Năm 1959 Trƣơng Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng học”. Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loại bọ lá phá hoại nhiều loại cây rừng.

Năm 1978, Sở nghiên cứu động vật trƣờng Đại học Nông nghiệp Triết Giang đã xuất bản cuốn “Hình vẽ côn trùng thiên địch” trong đó đề cập đến đặc điểm sinh học của một số loài ăn thịt. Năm 1987 Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn “Côn trùng rừng Vân Nam” đã xây dựng bảng tra của 3 họ phụ và họ Bọ lá (Chrysomelidae) cụ thể họ phụ Chrysomelinae đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài, họ phụ Glirucinae đã giới thiệu 93 loài. Khái quát tình hình nghiên cứu côn trùng ở Việt Nam Trƣớc năm 1954 nói chung là các công trình nghiên cứu về côn trùng ở nƣớc ta còn rất ít. Nổi bật là các công trình nghiên cứu sau: Năm 1897 đoàn nghiên cứu ngƣời Pháp “Mission parie” đã điều tra côn trùng Đông Dƣơng trong đó có Việt Nam, đến năm 1904 công bố kết quả đã phát hiện đƣợc 1020 loài côn trùng trong đó có 541 loài bộ cánh cứng, 168 loài bộ cánh vẩy, 139 3 loài chuồn chuồn, 59 loài muỗi, 55 loài cánh màng, 9 loài bộ 2 cánh và 49 loài thuộc bộ khác.

Năm 1921 Vitalis de Salvza chủ biên tập “Faune Entomologi que de L’indochine” đã công bố thu thập 3612 loài côn trùng. Riêng miền Bắc Việt Nam có 1196 loài. Trong cuốn “Sâu hại rừng và cách phòng trừ” của tác giả Đặng Vũ Cẩn 1973 có giới thiệu một số loài sâu bọ hung hại lá bạch đàn là: Bọ hung nâu lớn, Bọ hung nâu xám bụng dẹt, Bọ hung nâu nhỏ sâu trƣởng thành của các loài này thƣờng sống trên cây bạch đàn. Trong giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp” của tác giả Trần Công Loanh (1989) có giới thiệu một loài Bọ ăn lá hồi (Oides decempunctaca) thuộc họ Bọ lá (Chrysomelidea), bộ Cánh cứng (Coleoptera).

Loài sâu này xuất hiện ở rừng Hồi ở Lạng Sơn nhất là 2 huyện Văn Lãng, Tràng Định.khi phát dịch chúng đã ăn trụi lá hàng chục ha rừng hồi. Trong cuốn “Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp” của các tác giả Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2001) đƣa ra các phƣơng pháp về điều tra đánh giá và dự tính dự báo khả năng phát dịch sâu hại. Năm 2009 – 2011, Nguyễn Thế Nhã đã xác định đƣợc 4 loài sâu ăn lá Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana) tại khu nghiên cứu Đông Bắc. Loài gây hại nhiều nhất là loài Sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha) thuộc họ Ngài độc.

Trong cuốn “Sâu, bệnh hại cây Bạch đàn và Keo” Phạm Quang Thu đã đề cập đến một số loài sâu hại cây Bạch đàn, Keo và đƣa ra một số biện pháp phòng trừ sâu hại trên hai loại cây này. Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu về sâu hại các loài cây đã đƣợc thực hiện và xuất bản khác. Cây Bồ đề và tình hình nghiên cứu sâu hại cây Bồ đề 1. Thông tin chung về cây Bồ đề Bồ đề (Styrax tonkinensis) là cây gỗ trung bình, cao 18 – 20m, có thể trên 20m, đƣờng kính ngang ngực 20 – 25cm.

Thân cây màu trắng, tƣơng đối tròn, vỏ mỏng. Tán cây mỏng và thƣa. Bồ đề là loài cây đặc hữu, mọc phổ biến ở miền Bắc trong rừng lá rộng thƣờng xanh bị phá tán hoặc rừng gỗ xem Tre, Vầu, Nứa. Phân bố tƣơng đối rộng ở nhiều vùng thuộc miền núi phía Bắc.

Bồ đề đƣợc trồng nhiều ở vùng Trung tâm Bắc Bộ. Những nghiên cứu về sâu hại cây Bồ đề Thành phần hại cây Bồ đề không nhiều, nhƣng cây Bồ đề thƣờng bị hại bởi loài sâu xanh ăn lá, gây trụi nhiều cánh rừng lớn ảnh hƣởng tới sự sinh trƣởng của rừng. Trong cuốn “Côn trùng rừng” của tác giả Trần Công Loanh và Nguyễn Thế Nhã xuất bản năm 1997 đã nghiên cứu loài sâu hại cây Bồ đề là Sâu xanh ăn lá Bồ đề. Sâu Xanh bồ đề (Fentonia sp.) lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu hoàn chỉnh ở Việt Nam của tác giả Lê Nam Hùng.

Tình hình sâu hại cây Bồ đề 1. Tình hình sâu hại trên cả nƣớc Theo Trạm Bảo vệ thực vật Lục Yên (Yên Bái) cho biết, loại sâu hại bồ đề là sâu khoang với sâu xanh với diện tích nhiễm tăng từ 5ha lên tới gần 20ha chỉ trong vòng 1 tuần. Sâu lạ phá hơn 100ha rừng cây bồ đề ở Lào Cai, hơn 100ha rừng cây bồ đề ở xã Bảo Yên đã bị một loại sâu lạ tàn phá nặng nề. Tình hình sâu hại Bồ đề tại khu vực nghiên cứu Theo báo cáo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Phú Thọ thì Sâu xanh hại lá xuất hiện trên các rừng Bồ đề 3 – 5 tuổi tại các xã Kim Thƣợng, Xuân Đài, Long Cốc, Đồng Sơn.

Mật độ sâu non trung bình 5 – 10 (con/cây); cao từ 20 – 5 30 (con/cây). Tỷ lệ lá hại trung bình 15 – 20%; cao 30 – 45%. Diện tích bị sâu hại khoảng 497ha / 766ha. Trong đó diện tích nhiễm trung bình là 222ha, nhiễm nặng là 275ha.

Trong 2 năm 2011 và 2012, dịch sâu hại Bồ đề đã làm thiệt hại lớn cho ngƣời dân tại địa phƣơng, gây hoang mang lo sợ về trận dịch lớn sẽ xảy ra.Vì vậy, các ban nghành liên quan cùng với ngƣời dân cần phải có biện pháp quản lý sâu hại một cách thích hợp. 6 CHƢƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ