CHƯƠNG I : CÁC VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT I.Công nghệ giáo dục (Educational Technology) và việc áp dụng CNTT trong Dạy -Học Công nghệ thông tin và truyền thông (4T) phát triển như vũ bão nó vừa là hạ tầng vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế-văn hoá và giáo dục. Nó đang làm nên sự thay đổi mạnh mẽ trong giáo dục tạo ra Công nghệ giáo đục (Educational Technology). Trong đó việc sử dụng Công nghệ Dạy và Học (Teaching and Learning Technology) dẫn tới làm thay đổi nội dung - phương pháp Dạy và Học với nhiêu hình thức phong phú. Nhờ có công nghệ mà giáo duc có thể thực hiện được tiêu chí : học mọi nơi (znywhere), học mọi lúc (anytime), học một cách mở và học suốt đời (open and ƒflixible learning) Hoá học với đặc thù của một khoa học thực nghiệm đòi hỏi có độ chính xác cao thì yêu cầu của việc UDCNTT càng cấp thiết.
Một trong các vấn đề được chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong đề tài này là việc UDCNTT vào thiết kế các thí nghiệm mô phỏng (experimental Simulation) dùng trong giảng day hoá học. Theo môt số các công bố mới đây trên mạng internet về hướng nghiên cứu này cho thấy. Thí nghiệm mô phỏng cung cấp một môi trường cho việc phát hiện ra các khái niệm mới cũng như đạt được sự hiểu biết về ảnh hưởng qua lại giữa các hiện tượng phức tạp kì lạ, cho việc xây dựng các chủ đề nghiên cứu. Mô phỏng cũng là một lĩnh vực mà ở đó công nghệ máy tính phù hợp nhất với vai trò là công cụ cho việc chuyển giao các kinh nghiệm giáo dục.
Những người ủng hộ việc sử dụng mô phỏng coi nó là một trong những đột phá lớn trong giáo duc(Kurt Schmucker-Apple Computer), n6 lam phát triển khả năng tư duy về toán học và khoa học của trẻ (Judah Schwartz- giám đốc trung tâm giáo dục Haward). Máy tính sẽ có thể mô phỏng thế giới cũng như giải thích nó việc tạo ra và sử dụng trong mô phỏng bằng máy tính sẽ là một công cụ vô cùng thuận lợi trong giáo dục vì tiện lợi và tính giáo dục cao (Bill Gate) Những công nghệ mô phỏng đem đến cho sinh viên những cơ hội thú vị để họ phát hiện thông tin, thúc đẩy sự hứng thú của họ, để thí nghiệm và chứng minh những gì họ đã học được (George Lucas- Tổ chức giáo dục quốc tế) Như vậy nói về cải cách giáo dục trong giai đoạn hiện nay nếu như không có sự tham dự của CNTT thì khó có thể đảm bảo được tính hiện đại vì yếu tố 6 thông tin (Điều này được đề cập trong tiêu chí APIEID của UNESCO giai đoạn 2002 - 2007). Nhưng vấn đề đặt ra là việc ứng dụng sẽ được triển khai như thế nào để phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước và nhà trường với đặc thù là một trường Đại học vùng miền núi Tay Bắc? Một điều thật may mắn là với những lợi thế của mình cùng với các bước tiến nhanh về các giải pháp côngnghệ mạng Internet sẽ giúp chúng ta khắc phục được yếu tố bất lợi đó về khoảng cách đặc biệt là sự đầu tư nâng cấp lớn về cơ sở vật chất thiết bị trường Đại học Tây bắc trong lĩnh vực này trong những năm vừa qua. Để thực hiện được mục tiêu đó cần xây dựng được một hệ thống các bài giảng hoá học điện tử với cơ sở đữ liệu phong phú sau đó triển khai việc ứng dụng vào giảng dạy thử nghiệm.
Việc ứng dụng CNTT để xây dựng các bài giảng phải do chính GV những người sẽ thuyết trình tự mình thiết kế các ý tưởng của chính cá nhân mình. Vấn đề này đã được trình bày trong báo cáo của TS Quách Tuấn Ngọc- Giám đốc trung trân CNTT Bộ GD&ĐT tại hội nghị về UDCNTT trong GD toàn quốc HN 2003 : “Việc áp dụng CNTT phải linh hoạt không vận dụng một cách máy móc cứng nhắc không được áp đặt. Phải tạo ra sự hứng thú của giáo viên với CNTT vì phương pháp giảng dạy tốt là do giáo viên quyết định. Cần cho giáo viên tự xây dựng công cụ giảng dạy với sự hỗ trợ của chuyên gia CNTT.
Cần chuyển giao công nghệ làm phần mêm dạy học tới giáo viên để học có thể tự sản xuất lấy chương trình (†s Quách Tấn Ngọc )ˆ Để có được các bài giảng sinh động và hiệu quả việc trước tiên sau khi người GV đã có ý tưởng khoa học phải nắm được cách sử dụng các phần mềm dùng thuyết trình các bài giảng. Hiện nay phần mềm MS Powerpoint được dùng phổ biến trong việc thuyết trình quảng cáo cũng như thể hiện các ý tưởng khoa học do tính phổ biến và dễ sử dụng (Đáy là một phần mêm ứng dụng trong bộ OFFICES của Microsoft). Tuy nhiên trên thế giới cũng như trong nước thì việc sử dụng nó làm các báo cáo và các thuyết trình quảng cáo hoặc hội thảo là chủ yếu việc sử dụng nó làm công cụ trợ giảng chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đây đủ. Cho đến nay chưa có một công trình nào hướng dẫn một cách cụ thé va chi tiết các quy trình để thiết kế các bài giảng cho các môn học nói chung và môn hoá học nói riêng.
Do vậy chúng tôi tổ chức nghiên cứu MS Powerpoint XP, do khả năng đồ họa trong MS Powerpoint cao và đáp ứng được các yêu cầu xây dựng các mô phỏng (Có tương tác động : animation, Aimulation ) của hoá học nên chúng tôi sử dụng tiện ích này cho các bài giảng 7 thông tin (Điều này được đê cập trong tiêu chí APIEID của UNESCO giải đoạn 2002 - 2007). Nhưng vấn đẻ đặt ra là việc ứng dụng sẽ được triển khai như thế nào để phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước và nhà trường với đặc thù là một trường Đại học vùng miền núi Tay Bấc? Một điều thật may mắn là với những lợi thế của mình cùng với các bước tiến nhanh về các giải pháp côngnghệ mạng Internet sẽ giúp chúng ta khấc phục được yếu tố bất lợi đó về khoảng cách đặc biệt là sự đầu tư nâng cấp lớn về cơ sở vật chất thiết bị trường Đại học Tây bắc trong lĩnh vực này trong những năm vừa qua. Để thực hiện được mục tiêu đó cần xây dựng được một hệ thống các bài giảng hoá học điện tử với cơ sở dữ liệu phong phú sau đó triển khai việc ứng dụng vào giảng dạy thử nghiệm. Việc ứng dụng CNTT để xây dựng các bài giảng phải do chính GV những người sẽ thuyết trình tự mình thiết kế các ý tưởng của chính cá nhân mình.
Vấn đề này đã được trình bày trong báo cáo của TS Quách Tuấn Ngọc- Giám đốc trung trâm CNTT Bộ GD&ĐT tại hội nghị về UDCNTT trong GD toàn quốc HN 2003 : “Việc áp dụng CNTT phải linh hoạt không vận dụng một cách máy móc cứng nhắc không được áp đặt. Phải tạo ra sự hứng thú của giáo viên với CNTT vì phương pháp giảng dạy tốt là do giáo viên quyết định. Cân cho giáo viên tự xây dựng công cụ giảng dạy với sự hỗ trợ của chuyên gia CNTT. Cân chuyển giao công nghệ làm phần mêm dạy học tới giáo viên để học có thể tự sản xuất lấy chương trÌ"Ì (rs Quách Tấn Ngọc )ˆ Để có được các bài giảng sinh động và hiệu quả việc trước tiên sau khi người GV đã có ý tưởng khoa học phải nắm được cách sử dụng các phần mềm dùng thuyết trình các bài giảng.
Hiện nay phần mềm MS Powerpoint được dùng phổ biến trong việc thuyết trình quảng cáo cũng như thể hiện các ý tưởng khoa học do tính phổ biến và dễ sử dụng (Đây là một phần mêm ứng dụng trong bộ OFFICES cta Microsoft). Tuy nhiên trên thế giới cũng như trong nước thì việc sử dụng nó làm các báo cáo và các thuyết trình quảng cáo hoặc hội thảo là chủ yếu việc sử dụng nó làm công cụ trợ giảng chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đây đủ. Cho đến nay chưa có một công trình nào hướng dẫn một cách cụ thể và chi tiết các quy trình để thiết kế các bài giảng cho các môn học nói chung và môn hoá học nói riêng. Do vậy chúng tôi tổ chức nghiên cứu MS Powerpoint XP, do khả năng đồ họa trong MS Powerpoint cao và đáp ứng được các yêu cầu xây dựng các mô phỏng (Có tương tấc động : animafion, Simulation ) cua hod học nên chúng tôi sử dụng tiện ích này cho các bài giảng 7 của mình.
Để sử dụng nó người học cần được tập huấn chung về MS Powerpoint để nắm được các kiến thức cơ bản trước khi đi vào phần thiết kế cụ thể cho bài giảng hoá học điện tử (Được gọi là : eLecChem).Vai trò của phương tiện dạy học : Quá trình dạy học là một quá trình truyền thông hai chiều. -Người thày giáo truyền đạt các thông điệp khác nhau (các thông tin mà người học phải được học và hiểu hay phải thực hành được một số nhiệm vụ) -Người học truyền đạt lại cho thầy giáo những tiến bộ về mặt nhận thức, mức độ nắm bắt các kỹ năng đã được thày giáo dạy. -Những thông tin này được thày giáo tiếp nhận và xử lý quyết định điều chỉnh hay tiếp tục thực hiện công việc dạy học của mình -Thày giáo phản hồi thông tin (uốn nắn, hướng dẫn, động viên .người học ). Quá trình dạy học có thể trình bày theo sơ đồ sau : Các thông tin để học Các thông tin về sự tiến bộ học tập Thay giáo Các thông tin phản hồi (uốn nắn, hướng dẫn) `.
Trong qua tru vay aye miu yuan uy giua Lae wai pudn tham gla qua trình dạy học, thông tin hai chiều được phương tiện dạy học truyền tải theo một phương pháp cụ thể nào đó, phương tiện dạy học có thể đóng vai trò trong quá trình dạy học. Các phương tiện dạy học thay thế cho những sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà cả giáo viên và học sinh đều không thể tiếp cận được .Chúng giúp cho giáo viên phát huy tất cả các giác quan của học sinh trong quá trình truyền thụ kiến thức, do đó giúp người học nhận biết được các mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng và tái hiện được những khái niệm, quy luật là cơ sở cho việc đúc rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất.