Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng sinh học phong phú của hệ thực vật họ Lan (Orchidaceae), thu hút sự quan tâm lớn về mặt nghiên cứu khoa học cũng như giá trị thẩm mỹ, kinh tế. Xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang là một trong năm xã thuộc vùng đệm và vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, được thành lập theo Quyết định số 82/2002/QĐ-UBND ngày 24/5/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang với tổng diện tích tự nhiên là 199 km². Khu vực này sở hữu hệ sinh thái rừng tự nhiên đặc trưng với hàm lượng mùn cao, tầng đất sâu ẩm, khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho thảm thực vật phát triển.

Trước thời điểm nghiên cứu, các công trình khảo sát của Trường Đại học Lâm nghiệp tại địa bàn xã An Lạc đã ghi nhận 786 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 496 chi và 166 họ, trong đó có 43 loài quý hiếm ghi trong Sách Đỏ Việt Nam như pơ mu, thông tre, thông nàng, chò chỉ, kim giao, trầm hương, lát hoa... Tuy nhiên, đối tượng phong lan vẫn chưa được điều tra chuyên biệt hoặc dữ liệu còn sơ lược. Đồng thời, dưới áp lực từ tập quán sinh hoạt của người dân bản địa cùng hoạt động khai thác, buôn bán thực vật rừng, tài nguyên phong lan tự nhiên tại địa phương đứng trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng về số lượng loài và mật độ quần thể. Đề tài "Nghiên cứu tính đa dạng và phân bố của các loài phong lan tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn" do sinh viên Nguyễn Thị Quyên thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Thanh Hà (Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp) nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu này.

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là xác định tính đa dạng về thành phần loài, công dụng, đặc điểm nơi phân bố, xây dựng bản đồ phân bố và đánh giá các tác động ảnh hưởng tới các loài phong lan tại xã An Lạc, làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững. Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 6 nội dung cụ thể:

  1. Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài phong lan tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
  2. Nghiên cứu tính đa dạng về công dụng của các loài phong lan thu thập được.
  3. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái rừng nơi các loài phong lan phân bố.
  4. Xây dựng bản đồ phân bố cho các loài phong lan trong khu vực nghiên cứu.
  5. Đánh giá các tác động ảnh hưởng tới các loài phong lan trong khu vực nghiên cứu.
  6. Đề xuất các biện pháp bảo tồn tính đa dạng loài phong lan trong khu vực.

Đối tượng nghiên cứu là tất cả các loài phong lan mọc tự nhiên trên địa bàn xã An Lạc. Thời gian triển khai nghiên cứu thực địa và xử lý số liệu diễn ra từ ngày 10/02/2015 đến ngày 10/05/2015.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa nền tảng lý luận về phân loại học họ Lan từ các công trình kinh điển trên thế giới và Việt Nam, bao gồm hệ thống định danh của Jussieu (1789), các công trình của Gagnepain trong bộ Thực vật chí Đông Dương (Flore Générale de l'Indochine), danh lục 800 loài của Seidenfaden (1992), các nghiên cứu của L. V. Averyanov và cs. (1994, 2003, 2004), cùng các tài liệu tra cứu chuyên ngành trong nước của Trần Hợp (1998, 2000), Nguyễn Thiện Tịch (2000), Nguyễn Tiến Bân (2005). Chuẩn đối sánh bảo tồn căn cứ trên Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2014) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra thực địa được kết hợp giữa phương pháp điều tra lâm học truyền thống và phương pháp đánh giá nông thôn:

  • Phương pháp kế thừa có chọn lọc: Thu thập các số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, khí tượng thủy văn, địa hình thổ nhưỡng và báo cáo phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo vi phạm lâm luật của xã An Lạc.
  • Phương pháp điều tra ngoại nghiệp:
    • Điều tra theo tuyến: Thiết lập 5 tuyến điều tra đi qua các trạng thái rừng và sinh cảnh đại diện:
      • Tuyến 1: Chốt Vũng Tròn – Khe Ó Cạn (E00496840 N02360602 đến E00497002 N02361073).
      • Tuyến 2: Chốt Vũng Tròn – Đỉnh Khau Chon / Tam giác vàng (E00496890 N02360569 đến E00497079 N02361255).
      • Tuyến 3: Khe Rỗ – Khe Cắng Cai (E00496895 N02360542 đến E00497130 N02360150).
      • Tuyến 4: Khe Rỗ – đỉnh Khau Mu – Cầu Nà Mười – Chốt Vũng Tròn (E00496840 N02360545 đến E00496464 N02360810).
      • Tuyến 5: Cáng Cai – Pò Thác (E00497067 N02360183 đến E00497184 N02359249). Sử dụng GPS cầm tay định vị tọa độ, đo độ cao, dùng máy ảnh ghi nhận hình thái và thu hái mẫu tiêu bản (bảo quản khô và ẩm có gắn nhãn etiket).
    • Điều tra theo ô tiêu chuẩn (OTC): Lập 3 ô tiêu chuẩn diện tích 1.000 m² (mỗi ô $20 \text{ m} \times 50 \text{ m}$ hoặc tương đương) tại các khu vực tập trung phong lan ven khe suối để đo đếm tầng cây gỗ làm giá thể và xác định công thức tổ thành rừng.
    • Điều tra xã hội học (PRA/RRA): Phỏng vấn trực tiếp 30 cá nhân (gồm cán bộ xã, kiểm lâm trạm Biểng, tổ bảo vệ rừng và người dân địa phương thuộc các dân tộc Kinh, Tày, Thái chuyên đi rừng, buôn bán phong lan) nhằm xác định giá trị sử dụng, tình hình khai thác và gây trồng.
  • Phương pháp xử lý nội nghiệp:
    • Định danh loài bằng phương pháp hình thái so sánh, đối chiếu mẫu vật với tài liệu chuyên khảo.
    • Lập công thức tổ thành tầng cây gỗ ($k_i \cdot X_i$) với hệ số 10 dựa trên số cây trung bình ($N_{tb} = N/m$).
    • Ứng dụng phần mềm MapInfo kết hợp dữ liệu bảng tính để số hóa tọa độ, xây dựng 11 bản đồ phân bố không gian cho từng loài phong lan trên nền bản đồ hiện trạng rừng xã An Lạc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng thuật lịch sử nghiên cứu phong lan qua các giai đoạn. Trên thế giới, phong lan được mô tả từ thời Theophrastus (370–285 TCN), Dioscorides đến Linnaeus (1753) và Jussieu (1789). Tại Việt Nam, nghiên cứu trải qua các giai đoạn: thời phong kiến (vua Trần Anh Tông lập Ngũ Bách Lan Viên); thời kỳ Pháp thuộc với các chuyến thám hiểm của Loureiro (1790), Finlayson (1826), Gaudichaud Beaupre (1837), Gagnepain (1907–1951); và giai đoạn hiện đại với các công bố hệ thống của Seidenfaden (1992), L. V. Averyanov (thống kê 897 loài thuộc 152 chi năm 2003, chỉ ra 10 chi giàu loài nhất chiếm 49,9% hệ lan Việt Nam), Nguyễn Tiến Bân (865 loài thuộc 154 chi), cùng các nghiên cứu nhân giống in vitro (Phạm Thị Liên, Nguyễn Quang Thạch) và nghiên cứu dược liệu lan kim tuyến (Ngô Văn Sơn, Phùng Văn Phê). Riêng tại xã An Lạc, các đề tài lâm sinh trước đó mới thống kê chung 786 loài thực vật bậc cao mà chưa đi sâu vào họ Lan.

Chương 2: Mục tiêu, nội dung, giới hạn, phương pháp nghiên cứu

Tác giả cụ thể hóa mục tiêu, 6 nội dung nghiên cứu, xác lập phạm vi giới hạn không gian - thời gian (3 tháng), đồng thời mô tả chi tiết quy trình thực địa: thiết kế 5 tuyến khảo sát, tọa độ định vị, quy trình lập 3 ô tiêu chuẩn $1.000 \text{ m}^2$, danh sách phỏng vấn 30 người dân theo mẫu phiếu cấu trúc, phương pháp thu trữ mẫu tiêu bản thực vật và thuật toán xác định công thức tổ thành tầng cây cao làm giá thể.

Chương 3: Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội

Địa bàn nghiên cứu nằm ở tọa độ từ $20^\circ 17'$ đến $21^\circ 21'$ vĩ độ Bắc và $106^\circ 02'$ đến $107^\circ 23'$ kinh độ Đông. Địa hình núi cao dốc thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam (chênh cao 650 m, sườn Tây Nam dốc $35^\circ - 40^\circ$). Thổ nhưỡng gồm hai nhóm đất Feralit chính: Feralit trên núi (>300 m) và Feralit điển hình (200–300 m) phát triển trên đá mẹ sa thạch, phiến sét. Khí hậu nhiệt đới gió mùa: nhiệt độ trung bình năm $23^\circ \text{C}$, lượng mưa trung bình năm theo trạm khí tượng địa phương ghi nhận $148,33 \text{ mm}$ (mùa mưa tháng 5–8), độ ẩm trung bình $82%$. Mạng lưới thủy văn gồm 7 hệ suối bắt nguồn từ Yên Tử (Đồng Rì, Khe Rỗ, Khe Đin...). Toàn xã có 12 thôn bản, 881 hộ (3.604 nhân khẩu), đồng bào dân tộc thiểu số chiếm $86%$ (9 dân tộc: Kinh, Tày, Cao Lan, San Chí, Dao, Hoa, Mường, Nùng, Thái). Đời sống người dân phụ thuộc lớn vào tài nguyên rừng, thu nhập bình quân 6,7 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ mù chữ ở độ tuổi trên 45 lên đến $80%$, tạo áp lực khai thác lâm sản tự nhiên rất cao.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố toàn bộ số liệu điều tra gốc:

  • Thành phần loài: Thu thập và định danh được 11 loài phong lan thuộc 7 chi. Không ghi nhận loài nào nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) hay Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Chi Eria chiếm ưu thế nhất (3 loài), tiếp đến là Bulbophyllum (2 loài), Dendrobium (2 loài), các chi còn lại là đơn loài (Cymbidium, Luisia, Pteroceras, Thrixspermum).
  • Dạng sống và sinh thái: Gồm 7 loài phụ sinh hoàn toàn trên cây gỗ, 3 loài phụ sinh kết hợp bám đá, riêng loài Kiếm lô hội (Cymbidium aloifolium) vừa phụ sinh trên cây vừa phát triển trên nền đất mùn.
  • Tổ thành rừng: Phong lan phân bố chủ yếu ở trạng thái rừng trung bình ven khe suối, độ che phủ cao, râm mát. Tầng cây gỗ giá thể chủ yếu gồm Lim xanh (Erythrophleum fordii), Sau sau, Dẻ gai, Sến mật, Kháo xanh.
  • Độ cao và tọa độ phân bố: Các loài xuất hiện ở dải độ cao từ 111 m đến 403 m. Nhiều loài mọc ở độ cao thấp (111–200 m) như Xương cá nhện, Môi sừng đảo, Lọng tán giả. Một số loài phân bố lên đai cao hơn như Kiếm lô hội (325 m), Chân rết lá xanh (302–403 m).
  • Tác động nhân vi: Phân tích 106 vụ vi phạm lâm luật trong năm 2014 (tăng 69 vụ so với năm 2013, trong đó lấn chiếm phá rừng chiếm 99 vụ) và thực trạng thu hái tự do 3 loài có giá trị thương mại (Cymbidium aloifolium, Thrixspermum centipeda, Dendrobium lindleyi) vào mùa mưa.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng về tài nguyên phong lan tự nhiên tại xã An Lạc:

STT Tên Việt Nam Tên khoa học Dạng sống Biên độ độ cao ghi nhận
1 Lọng tán giả Bulbophyllum evrardii Gagnep. Bám cây, bám đá 112 m
2 Lan lọng đẹp Bulbophyllum pectinatum Finet Bám cây, bám đá 130 – 302 m
3 Lan kiếm lô hội Cymbidium aloifolium (L.) Sw. Bám cây, hoại sinh đất 325 m
4 Lan chân rết lá xanh Dendrobium acinaciforme Roxb. Bám cây gỗ 302 – 403 m
5 Lan hoàng thảo vảy rồng Dendrobium lindleyi Steud. Bám cây gỗ 111 – 131 m
6 Lan len bông thưa Eria corneri Rchb.f Bám cây, vách đá 140 – 343 m
7 Lan len nhung Eria lanigera Seidenf. Bám cây gỗ 128 – 135 m
8 Tuyết lan Eria tomentosa Hook.f Bám vỏ cây lớn 131 m
9 Lan san hô môi túi Luisia zollingeri Rchb.f Bám vỏ cây lớn 131 m
10 Lan môi sừng đảo Pteroceras simondianum Averyanov Bám vỏ cây gỗ 144 – 168 m
11 Lan xương cá nhện Thrixspermum centipeda Lour. Bám cây gỗ, dây leo 111 – 174 m

Về công dụng, toàn bộ 11 loài đều có giá trị làm cảnh. Trong đó, 4 loài được xác định có công dụng làm dược liệu theo tri thức dân gian và tài liệu chuyên khảo:

  • Cymbidium aloifolium: Chữa cam tích trẻ em, điều kinh; lá tươi giã nát trộn rượu đắp chữa gãy xương, sai khớp, chấn thương gân.
  • Dendrobium acinaciforme: Toàn cây dùng làm thuốc bồi bổ cơ thể, trị chứng liệt dương, mồ hôi trộm.
  • Dendrobium lindleyi: Trị phế nhiệt sinh ho, viêm phế quản, ho khan, lao phổi, bổ sinh tân dịch.
  • Thrixspermum centipeda: Toàn cây dùng làm thuốc cai đẻ; lá sắc uống chữa viêm họng hạt.

Về mặt sinh thái và lâm học, tác giả xác định phong lan tự nhiên tại An Lạc chỉ hiện diện ở trạng thái rừng tự nhiên trung bình (nơi có tán rừng khép kín, ẩm độ không khí cao, ánh sáng tán xạ từ yếu đến trung bình). Tại rừng nghèo và rừng non tái sinh, hoàn toàn không bắt gặp phong lan do thiếu vắng các cây gỗ giá thể kích thước lớn (như Lim xanh, Sến mật, Sau sau) và vi khí hậu khô cằn. Nghiên cứu cũng ghi nhận loài Len bông thưa (Eria corneri) có tần suất bắt gặp nhiều nhất (12 vị trí), trong khi Tuyết lan (Eria tomentosa) và San hô môi túi (Luisia zollingeri) có số lượng cá thể rất ít, chỉ bắt gặp tại duy nhất 1 điểm quan trắc.

Dựa trên phân tích nguyên nhân suy giảm tài nguyên (khai thác thương mại tự phát và tình trạng vi phạm lâm luật phức tạp), tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp bảo tồn:

  1. Nhóm giải pháp quản lý: Củng cố lực lượng phối hợp giữa 3 trạm kiểm lâm trên địa bàn với Ủy ban nhân dân xã; đưa quy ước bảo vệ các loài hoa phong lan vào hương ước thôn bản; kiểm soát chặt chẽ việc mang lan ra khỏi rừng tại các chốt bảo vệ.
  2. Nhóm giải pháp kỹ thuật: Khoanh vùng các sinh cảnh ven suối Khe Rỗ, Khe Ó Cạn, Pò Thác; bảo tồn nguyên vị tầng cây gỗ giá thể ưu thế (Lim xanh, Dẻ, Sến); thử nghiệm gây trồng và nhân giống bản địa các loài lan có giá trị dược liệu.
  3. Nhóm giải pháp chính sách và xã hội: Tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo tồn cho cộng đồng (đặc biệt các hộ dân tộc Tày, Thái sống dựa vào rừng); hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, giải quyết việc làm để giảm áp lực khai thác rừng trái phép.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc lập danh lục thực vật chuyên biệt và xây dựng bộ bản đồ phân bố tọa độ GPS đầu tiên cho các loài lan tự nhiên tại xã An Lạc, bổ sung cơ sở khoa học cho công tác quản lý phân khu bảo tồn của Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do tác giả tự nhận định và phản ánh từ điều kiện nghiên cứu:

  • Thời gian khảo sát thực địa ngắn (3 tháng, từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2015), chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ sinh trưởng, ra hoa và phát triển của các loài phong lan trong các mùa khác nhau trong năm.
  • Số lượng loài ghi nhận được còn khiêm tốn (11 loài). Hầu hết các loài tìm thấy đều có hoa nhỏ, kích thước cá thể bé, ít giá trị thương mại lớn. Các loài phong lan quý hiếm, hoa to sặc sỡ từng phân bố trước đây đã bị người dân khai thác kiệt quệ từ những năm trước, khiến tác giả không thể thu thập được mẫu tiêu bản ngoài thực địa.
  • Bản đồ phân bố dừng lại ở mức ghi nhận điểm tọa độ bắt gặp (Point data) thông qua MapInfo, chưa mô hình hóa được mật độ trữ lượng và ranh giới vùng phân bố tiềm năng của các quần thể.

Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc mở rộng phạm vi điều tra sang các xã lân cận trong Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, tổ chức quan trắc liên tục theo mùa để bổ sung danh lục, đồng thời nghiên cứu sâu về kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng hoặc nuôi cấy mô (in vitro) đối với 4 loài lan dược liệu bản địa phục vụ phát triển kinh tế cộng đồng.


Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là nguồn tài liệu thực địa hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên các ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Khoa học môi trường, Sinh học thực vật khi tìm kiếm tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp điều tra tuyến (Line transect) bằng GPS với phương pháp ô tiêu chuẩn lâm học và phỏng vấn PRA.
  • Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử và Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Động trong việc hoạch định các tiểu khu cần ưu tiên bảo vệ nghiêm ngặt (các dải rừng trung bình ven suối Khe Rỗ, Khe Cắng Cai, Khau Mu).
  • Các nhà nghiên cứu phân loại thực vật học quan tâm đến tọa độ phân bố thực tế, sinh cảnh vi khí hậu và danh mục cây gỗ làm giá thể của các loài thuộc chi Eria, Bulbophyllum, Dendrobium tại vùng núi Đông Bắc Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Thành phần loài phong lan điều tra được tại xã An Lạc có đặc điểm như thế nào và chi nào chiếm số lượng loài nhiều nhất?
Nghiên cứu ghi nhận được 11 loài phong lan thuộc 7 chi thực vật. Chi có số lượng loài lớn nhất là Eria (3 loài: Eria corneri, Eria lanigera, Eria tomentosa). Hai chi có 2 loài là Bulbophyllum và Dendrobium. Bốn chi còn lại là đơn loài gồm Cymbidium, Luisia, Pteroceras và Thrixspermum. Toàn bộ các loài tìm thấy đều có kích thước tương đối nhỏ và hoa không sặc sỡ.

2. Có loài phong lan nào tại khu vực điều tra nằm trong Sách Đỏ Việt Nam hoặc văn bản bảo vệ pháp lý không?
Không. Toàn bộ 11 loài phong lan thu thập và giám định tại xã An Lạc đều không thuộc danh mục các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2014) hay Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

3. Những loài phong lan nào có giá trị làm dược liệu và công dụng cụ thể là gì?
Có 4 loài được ghi nhận công dụng chữa bệnh:

  • Lan kiếm lô hội (Cymbidium aloifolium): Chữa cam trẻ em, điều kinh, giã đắp rượu chữa sai khớp, chấn thương gân.
  • Lan chân rết lá xanh (Dendrobium acinaciforme): Bồi bổ cơ thể, trị liệt dương, mồ hôi trộm.
  • Lan hoàng thảo vảy rồng (Dendrobium lindleyi): Trị ho phế nhiệt, ho khan, lao phổi.
  • Lan xương cá nhện (Thrixspermum centipeda): Làm thuốc cai đẻ và chữa viêm họng.

4. Phong lan tại xã An Lạc phân bố chủ yếu ở trạng thái rừng và điều kiện sinh thái nào?
Phong lan phân bố tập trung ở trạng thái rừng trung bình, tuyệt đối không xuất hiện ở rừng nghèo hoặc rừng phục hồi. Chúng sinh trưởng chủ yếu ở đai độ cao thấp (111 m đến 403 m), tập trung tại các sinh cảnh ẩm ướt ven khe suối, hốc đá râm mát, nơi có cường độ ánh sáng từ yếu đến trung bình và phụ sinh trên các loài cây gỗ lớn như Lim xanh, Sau sau, Dẻ gai, Sến mật.

5. Hoạt động khai thác phong lan của người dân địa phương diễn ra như thế nào?
Người dân chủ yếu khai thác 3 loài có giá trị thương mại là Lan kiếm lô hội, Lan hoàng thảo vảy rồng (khai thác tách khóm hoặc lấy toàn bộ vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 7) và Lan xương cá nhện (khai thác cả búi quanh năm). Việc thu hái tập trung vào mùa mưa và để lại vết thương hở trên thân cây, tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập làm suy kiệt quần thể tự nhiên.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Quyên đã phản ánh trung thực hiện trạng đa dạng sinh học và đặc tính phân bố sinh thái của 11 loài phong lan tự nhiên tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Công trình làm rõ mối quan hệ cộng sinh mật thiết giữa phong lan với cấu trúc tầng cây cao của trạng thái rừng trung bình ven suối, đồng thời chỉ ra sức ép suy giảm nghiêm trọng do khai thác thương mại và vi phạm lâm luật trên địa bàn. Các bản đồ phân bố tọa độ và hệ thống 3 nhóm giải pháp đề xuất cung cấp luận cứ thực tiễn có giá trị cho công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử.