Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu rủi ro thiên tai cao nhất thế giới với ước tính khoảng 70% dân số đối mặt với hiểm họa bão lũ và mức thiệt hại kinh tế chiếm khoảng 1,5% GDP hàng năm. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu diễn biến phức tạp, các đô thị lớn như Hà Nội đang đối mặt với tình trạng ngập úng cục bộ nghiêm trọng vào mùa mưa. Hiện tượng này không chỉ xuất phát từ lượng mưa cực đoan vượt vũ lượng thiết kế mà còn bắt nguồn từ tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, hệ thống tiêu thoát nước chưa đồng bộ và tình trạng bê tông hóa bề mặt diễn ra tràn lan.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là phân tích thực trạng ngập lụt đô thị và đánh giá toàn diện năng lực ứng phó của cộng đồng dân cư dưới lăng kính xã hội học. Đề tài hướng tới 3 mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, nhận diện các tác động đa chiều của ngập lụt đến đời sống sinh hoạt, việc làm, thu nhập và sức khỏe của người dân; Thứ hai, phân tích các chiến lược ứng phó của hộ gia đình và cộng đồng qua 3 giai đoạn trước, trong và sau ngập lụt; Thứ ba, đo lường mức độ hiệu quả của các biện pháp thích ứng nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho công tác quản trị rủi ro đô thị.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 2 địa bàn đại diện: phường Tân Mai (quận Hoàng Mai) với diện tích 0,53 km² đại diện cho khu vực nội thành có mật độ dân số cao và xã Tân Triều (huyện Thanh Trì) với diện tích 297,71 ha đại diện cho vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ tháng 05/2015 đến tháng 01/2016, đồng thời khai thác chuỗi dữ liệu thực địa từ năm 2008 đến năm 2015. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi chỉ ra 78,0% số hộ khảo sát từng bị nước tràn vào sân và nhà, đồng thời 83,3% người dân ghi nhận tình trạng suy giảm thu nhập do ngập lụt, tạo tiền đề xây dựng mô hình thích ứng bền vững cho cộng đồng cư dân đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng 2 lý thuyết nền tảng của xã hội học hiện đại để giải quyết vấn đề thích ứng thiên tai:

Thứ nhất là Lý thuyết Xã hội rủi ro của Ulrich Beck và Anthony Giddens. Lý thuyết này luận giải rằng rủi ro trong xã hội đương đại không thuần túy là hiểm họa tự nhiên mà là rủi ro nhân tạo sinh ra từ chính quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa thiếu kiểm soát. Ngập lụt đô thị là một dạng rủi ro phi địa phương hóa, gây ra tổn thất khó đo đếm và không thể bù đắp trọn vẹn bằng hỗ trợ tài chính đơn thuần, đòi hỏi xã hội phải chuyển dịch tư duy từ khắc phục thụ động sang chủ động phòng ngừa.

Thứ hai là Lý thuyết Vốn xã hội được phát triển bởi Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert Putnam và Nan Lin. Trong bối cảnh thiên tai, vốn xã hội biểu hiện qua các mạng lưới tương trợ xóm giềng, lòng tin cộng đồng và chuẩn mực tương hỗ. Đây là nguồn lực phi chính thức quan trọng giúp các hộ gia đình bù đắp khoảng trống của hạ tầng công cộng và hỗ trợ nhau vượt qua rủi ro ngập úng.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên mối quan hệ tương tác giữa hiểm họa ngập lụt, các tác động xã hội và chuỗi hành vi ứng phó trước, trong và sau ngập úng. Bốn khái niệm công cụ cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: Ứng phó (bao hàm phòng ngừa, đối phó và phục hồi thích ứng), Ngập lụt đô thị, Biến đổi khí hậu và Vốn xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao:

Nguồn dữ liệu định lượng được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi với cỡ mẫu 150 phiếu hoàn thành hợp lệ (trên tổng số 159 phiếu phát ra). Cỡ mẫu được tính toán theo công thức chọn mẫu tỷ lệ quốc tế với độ tin cậy 95% và khoảng sai số 7% từ tổng thể khoảng 850 hộ dân sinh sống tại các điểm nóng ngập lụt như tổ dân phố 28, 29, 30, 31 tại Tân Mai và xóm Lẻ, xóm Chùa, xóm Đình tại Tân Triều. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản không hoàn lại được áp dụng với tiêu chí người trả lời từ 18 tuổi trở lên và đã cư trú liên tục tại địa phương từ 7 năm trở lên (từ năm 2008 đến 2015).

Về định tính, nghiên cứu thực hiện 26 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp (gồm 6 cán bộ chính quyền cơ sở phụ trách phòng chống thiên tai và 20 người dân chịu ảnh hưởng ngập lụt sâu) kết hợp phương pháp quan sát thực địa về cao độ nền nhà, cốt đường và dòng chảy thoát nước trong các đợt mưa lớn tháng 9 và tháng 10 năm 2015.

Toàn bộ dữ liệu số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 22 với các kỹ thuật thống kê mô tả, lập bảng chéo và phân tích tần số, giúp lượng hóa chính xác các chiều cạnh tác động và mức độ hiệu quả của từng chiến lược ứng phó.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa ghi nhận 4 phát hiện quan trọng về mức độ tổn thương và hành vi ứng phó của cư dân:

Thứ nhất, tỷ lệ và độ sâu ngập úng ở mức báo động. Có 78,0% số hộ khảo sát (117/150 hộ) từng bị nước ngập vào sân hoặc tràn vào trong nhà. Trong trận ngập lịch sử năm 2008, tỷ lệ ngập sân và nhà lên tới 96,6%. Phân bố độ sâu ngập sân cho thấy: 40,2% hộ ngập dưới 20 cm; 23,9% hộ ngập từ 20 cm đến dưới 50 cm; 25,6% hộ ngập từ 50 cm đến 70 cm và có 10,3% hộ ngập sâu từ 70 cm đến hơn 100 cm.

Thứ hai, ngập lụt gây gián đoạn việc làm và sụt giảm thu nhập nghiêm trọng. Có 90,0% người dân xác nhận công việc bị ảnh hưởng trực tiếp (74,7% bị gián đoạn hoạt động, 74,0% bị giảm sút năng suất, 36,7% phải nghỉ việc tạm thời và 2,0% buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp). Hệ quả là 83,3% người trả lời bị giảm thu nhập, 16,0% giữ nguyên và chỉ có khoảng 0,7% tăng nhẹ thu nhập nhờ dịch vụ cứu hộ mùa lũ. Nhóm tiểu thương buôn bán chợ truyền thống và hộ kinh doanh nhà trọ chịu thiệt hại kinh tế nặng nề nhất.

Thứ ba, đảo lộn sinh hoạt thường nhật và suy giảm chất lượng sống. Hoạt động đi lại chịu tác động nặng nhất với 74,3% đánh giá mức độ rất ảnh hưởng. Hoạt động mua bán thực phẩm ghi nhận 40,3% hộ rất bị ảnh hưởng do chợ ngập và giá cả hàng hóa tăng vọt (66,7% ghi nhận tăng giá lương thực). Sinh hoạt cộng đồng và giải trí bị ngưng trệ ở mức 82,7% do không gian công cộng bị ngập úng và ô nhiễm.

Thứ tư, gia tăng nguy cơ bệnh tật và tổn thương nhóm yếu thế. Có 93,3% số người được hỏi (140/150 người) lo ngại về các nguy cơ phát sinh dịch bệnh sau ngập lụt như nấm da, cảm cúm, sốt xuất huyết và bệnh đường tiêu hóa. Đáng chú ý, trẻ em là đối tượng chịu rủi ro sức khỏe cao nhất với 40,0% ý kiến khẳng định, tiếp theo là nhóm người cao tuổi và phụ nữ sau sinh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng ngập lụt dai dẳng tại Tân Mai và Tân Triều là sự xung đột giữa tốc độ bê tông hóa với năng lực hạ tầng thoát nước. Việc san lấp các ao hồ tự nhiên và mương hở để xây dựng nhà ở tự phát đã làm triệt tiêu không gian thẩm thấu nước tự nhiên. Dưới góc nhìn của Ulrich Beck, đây chính là sự thất bại của hệ thống quản trị rủi ro hiện đại khi cơ sở hạ tầng kỹ thuật không theo kịp tốc độ phát triển kinh tế.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự vận hành rõ nét của vốn xã hội trong quản lý thảm họa. Mạng lưới thân tộc và láng giềng đã phát huy vai trò tối đa trong việc hỗ trợ kê kích tài sản, cung cấp nơi ở tạm và chia sẻ nước sạch khi xảy ra ngập úng dài ngày. Các số liệu này có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện mức độ gián đoạn việc làm (74,7% gián đoạn so với 36,7% nghỉ việc) và bảng số liệu tương quan giữa độ sâu ngập nước với tỷ lệ suy giảm thu nhập hộ gia đình.

So sánh với các nghiên cứu của David Satterthwaite và Judith Ehlert, kết quả tại Hà Nội khẳng định tri thức bản địa và tính chủ động của người dân giữ vai trò quyết định trong việc giảm nhẹ thiệt hại. Tuy nhiên, các giải pháp mang tính tự phát của từng hộ gia đình như nâng nền nhà đơn lẻ thường đẩy dòng nước ngập sang nhà láng giềng hoặc ra ngõ chung, đòi hỏi phải có sự can thiệp đồng bộ từ chính quyền đô thị.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu rủi ro ngập lụt:

Thứ nhất, nâng cấp và cải tạo đồng bộ hệ thống tiêu thoát nước cục bộ. Ủy ban nhân dân quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì cần chủ trì phối hợp với Công ty Thoát nước Hà Nội tiến hành nạo vét định kỳ 2 lần mỗi năm đối với hệ thống cống rãnh tại 100% các tuyến ngõ ngập sâu; đồng thời mở rộng tiết diện các tuyến mương thoát nước chính, hướng tới mục tiêu giảm 80% thời gian ngập úng sau mưa lớn trong lộ trình 2016-2018.

Thứ hai, xây dựng mạng lưới cảnh báo sớm và tổ chức phản ứng nhanh dựa vào cộng đồng. Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai cấp xã và phường cần thành lập tổ phản ứng nhanh tại 100% tổ dân phố và cụm dân cư; thiết lập kênh thông báo thời tiết qua tin nhắn và loa truyền thanh cơ sở, bảo đảm 95% hộ dân nhận được cảnh báo ngập úng trước từ 2 đến 4 giờ trước các trận mưa lớn giai đoạn 2016-2017.

Thứ ba, triển khai cơ chế hỗ trợ tài chính và hướng dẫn kỹ thuật cải tạo nhà ở chống ngập. Ngân hàng Chính sách Xã hội phối hợp với chính quyền địa phương cung cấp các gói vay ưu đãi lãi suất thấp cho 100% hộ nghèo và hộ cận nghèo tại các vùng trũng thấp để nâng nền nhà và sân từ 30 cm đến 50 cm, áp dụng quy chuẩn xây dựng thống nhất trong giai đoạn 2017-2020.

Thứ tư, quy hoạch bảo vệ hồ điều hòa và kiểm soát trật tự xây dựng đô thị. Sở Xây dựng và Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội cần tiến hành khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt 100% diện tích mặt nước hồ Tân Mai và đầm hồ tại Tân Triều; nghiêm cấm san lấp mặt nước trái phép và tăng thêm 25% dung tích trữ nước tự nhiên cho khu vực trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất: Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý đô thị tại các sở, ban, ngành. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về mức độ tổn thương xã hội và các điểm nghẽn hạ tầng, giúp hoàn thiện các quy chuẩn quy hoạch thoát nước đô thị và đề xuất chính sách an sinh xã hội mùa thiên tai.

Nhóm thứ hai: Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên các chuyên ngành Xã hội học, Đô thị học, Quản lý tài nguyên và Môi trường. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về cách tiếp cận liên ngành, ứng dụng kết hợp Lý thuyết Xã hội rủi ro và Lý thuyết Vốn xã hội với công cụ phân tích SPSS 22 trong nghiên cứu biến đổi khí hậu.

Nhóm thứ ba: Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển quốc tế hoạt động trong lĩnh vực giảm nhẹ rủi ro thiên tai. Dữ liệu thực địa từ 150 hộ dân và 26 mẫu phỏng vấn sâu là nguồn thông tin hữu ích để thiết kế các dự án thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại Việt Nam.

Nhóm thứ tư: Chính quyền cơ sở và ban tự quản các tổ dân phố, xóm làng tại các khu vực ven đô. Luận văn cung cấp các bài học kinh nghiệm thực tiễn về cách huy động nguồn lực xã hội, vận động cư dân đóng góp kinh phí và tổ chức lực lượng hỗ trợ nhau khi xảy ra ngập úng kéo dài.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính gây nên tình trạng ngập lụt nghiêm trọng tại Tân Mai và Tân Triều là gì? Tình trạng ngập lụt bắt nguồn từ sự kết hợp giữa các đợt mưa lớn cực đoan và quá trình đô thị hóa nhanh chóng làm gia tăng bề mặt bê tông hóa, cản trở thấm nước tự nhiên. Bên cạnh đó, hệ thống cống rãnh xây dựng thiếu đồng bộ, ao hồ tự nhiên bị thu hẹp khiến 78,0% số hộ khảo sát phải chịu cảnh nước tràn vào sân và nhà.

Ngập lụt ảnh hưởng như thế nào đến việc làm và thu nhập của người dân khu vực nghiên cứu? Khảo sát chỉ ra 90,0% người dân bị ảnh hưởng việc làm và 83,3% hộ gia đình bị suy giảm thu nhập. Công việc bị gián đoạn với tỷ lệ 74,7% và có 36,7% lao động phải tạm nghỉ việc. Thiệt hại nặng nhất thuộc về các tiểu thương chợ truyền thống do hàng hóa khan hiếm, giá tăng cao và các hộ cho thuê phòng trọ bị sinh viên trả phòng.

Vốn xã hội đóng vai trò như thế nào trong hoạt động ứng phó thiên tai của người dân? Vốn xã hội thể hiện qua mạng lưới tương trợ xóm giềng giúp nhau di dời đồ đạc lên cao, nấu ăn chung và chia sẻ nguồn nước sạch khi bị cắt điện nước. Điển hình tại xóm Chùa, người dân đã cùng đóng góp 1 triệu đồng mỗi người kết hợp vật liệu hỗ trợ của xã để nạo vét cống rãnh, giúp chấm dứt tình trạng ngập úng cục bộ.

Nhóm đối tượng nào chịu tổn thương nặng nề nhất về mặt sức khỏe khi ngập lụt xảy ra? Có 93,3% người dân xác nhận nguy cơ bùng phát dịch bệnh mùa mưa lũ. Trong đó, trẻ em là nhóm chịu tổn thương lớn nhất với 40,0% ý kiến phản ánh, thường mắc các bệnh ngoài da, dị ứng, cảm cúm và rối loạn tiêu hóa do nguồn nước sinh hoạt nhiễm khuẩn và môi trường ẩm ướt kéo dài.

Giải pháp ứng phó nào của hộ gia đình được đánh giá mang lại hiệu quả bền vững nhất? Hoạt động cải tạo cấu trúc công trình như nâng cao nền nhà và sân từ 30 cm đến 70 cm kết hợp tôn tạo đường ngõ được chứng minh mang lại hiệu quả cao nhất. Khi hộ gia đình chủ động nâng móng vượt cốt ngập lụt lịch sử, nguy cơ hư hại tài sản và xáo trộn sinh hoạt trong các mùa mưa tiếp theo được giảm thiểu rõ rệt.

Kết luận

Nghiên cứu về hoạt động ứng phó với ngập lụt của người dân Hà Nội tại xã Tân Triều và phường Tân Mai đã làm sáng tỏ 5 kết luận cốt lõi:

  • Thực trạng ngập lụt đô thị là một dạng rủi ro nhân tạo đặc trưng nảy sinh từ sự phát triển hạ tầng thiếu đồng bộ trong quá trình đô thị hóa.
  • Tác động của ngập lụt mang tính toàn diện khi có tới 78,0% hộ dân bị nước tràn vào nhà và 83,3% lao động bị sụt giảm thu nhập do gián đoạn sản xuất kinh doanh.
  • Vốn xã hội và mạng lưới gắn kết cộng đồng là nguồn lực cứu trợ tại chỗ then chốt, giúp người dân linh hoạt bù đắp cho những hạn chế của hạ tầng kỹ thuật đô thị.
  • Các chiến lược ứng phó của hộ gia đình đang chuyển dịch tích cực từ biện pháp tạm thời sang các giải pháp thích ứng kết cấu lâu dài như nâng nền và tôn tạo cống rãnh.
  • Hiệu quả thích ứng bền vững đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa công trình thoát nước của Nhà nước và năng lực tự quản của cộng đồng dân cư địa phương.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xây dựng hệ thống bằng chứng thực nghiệm vững chắc về khía cạnh xã hội học của ngập lụt đô thị, tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về quản trị rủi ro thiên tai trong giai đoạn 2016-2020. Các cơ quan quản lý đô thị và nhà nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng mô hình khảo sát này sang các khu vực đô thị hóa nhanh khác nhằm xây dựng thành phố Hà Nội thích ứng an toàn trước biến đổi khí hậu toàn cầu.