Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống thủy nông Trung Hà - Suối Hai giữ vai trò huyết mạch trong chiến lược an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Với tổng diện tích tự nhiên của lưu vực phục vụ lên tới 27.460,81 ha, hệ thống cung ứng nước tưới cho hơn 13.600 ha diện tích gieo trồng hàng năm. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê thực tế, diện tích tưới thực tế chỉ đạt 12.387 ha, tương ứng khoảng 45% so với quy mô thiết kế ban đầu là 28.387 ha. Tình trạng biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, mùa khô kéo dài với lượng mưa bình quân chỉ đạt 268 mm, kết hợp hiện tượng hạ thấp mực nước nghiêm trọng trên hệ thống sông Hồng và sông Đà (năm 2009 mực nước sông Hồng tại Hà Nội từng ghi nhận mức thấp lịch sử xấp xỉ 0,1 mét) đã gây ra áp lực cạn kiệt nguồn nước gay gắt cho các trạm bơm đầu mối.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là các phương pháp đánh giá thủy nông cổ điển chưa phản ánh đúng bản chất hiệu quả khai thác, thường coi lượng nước không tiêu thụ trực tiếp cho cây trồng là thất thoát, đồng thời bỏ qua nhu cầu dùng nước đa mục tiêu như nuôi trồng thủy sản trên diện tích 917,24 ha, cấp nước sinh hoạt cho hơn 201.760 người dân và duy trì dòng chảy môi trường. Luận văn hướng tới mục tiêu ứng dụng khung phương pháp luận kế toán nước (Water Accounting) để định lượng hóa chi tiết cân bằng nước, phân loại chính xác các dòng tiêu hao định trước, tiêu hao có lợi và tiêu hao không có ích trong phạm vi lưu vực hệ thống Trung Hà - Suối Hai trong năm 2014. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa then chốt trong việc cung cấp cơ sở khoa học định lượng, giúp nâng cao hệ số sử dụng nước từ mức 0,55 hiện tại lên trên 0,70 và gia tăng giá trị kinh tế trên mỗi mét khối nước khai thác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng toàn diện khung lý thuyết Kế toán nước (Water Accounting Framework) do David Molden phát triển tại Viện Quản lý Nước Quốc tế (IWMI) vào các năm 1997 và 1999. Khung lý thuyết này hoạt động dựa trên định luật bảo toàn khối lượng và nguyên lý cân bằng nước tổng thể, mở rộng phạm vi đánh giá vượt ra khỏi giới hạn của phương pháp Hiệu quả kinh điển (Classical Efficiency) và phương pháp Hiệu quả thực tế (Effective Efficiency). Phương pháp kế toán nước phân tách tường minh chu trình thủy văn trong lưu vực thành các hợp phần vật lý và giá trị kinh tế thông qua 5 khái niệm chuyên ngành nền tảng:

Thứ nhất, Tổng dòng chảy vào (Gross Inflow - GI) và Dòng chảy thực vào (Net Inflow - NI), bao gồm tổng lượng mưa tự nhiên, lượng nước mặt lấy qua công trình đầu mối kết hợp sự thay đổi lượng trữ trong các hồ chứa và tầng chứa nước ngầm.

Thứ hai, Tiêu hao định trước (Process Depletion - PD), đại diện cho lượng bốc thoát hơi nước từ các đối tượng cây trồng nông nghiệp mục tiêu như lúa, ngô, lạc và đậu tương.

Thứ ba, Tiêu hao không định trước có lợi (Beneficial Non-Process Depletion - NPDb), bao gồm lượng nước bốc thoát hơi từ thảm thực vật tự nhiên, cây ăn quả, diện tích nuôi trồng thủy sản và lượng nước tiêu thụ cho sinh hoạt, chăn nuôi, công nghiệp.

Thứ tư, Tiêu hao không có lợi (Non-beneficial Depletion - NPDnb) và Dòng chảy không ràng buộc (Uncommitted Outflow - UO), phản ánh phần nước bốc hơi mặt thoáng vô ích, thấm sâu vượt ngưỡng kiểm soát hoặc chảy ra khỏi ranh giới lưu vực mà không thể tái sử dụng.

Thứ năm, Tổng giá trị sản lượng nông nghiệp chuẩn hóa (Standardized Gross Value of Production - SGVP), tích hợp giá thành nông sản địa phương và giá quốc tế để đo lường năng suất kinh tế của tài nguyên nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập đồng bộ từ chuỗi số liệu quan trắc khí tượng năm 2014 tại trạm Ba Vì với tổng lượng mưa 1.640,8 mm, độ ẩm trung bình 85,6%, nhiệt độ bình quân 23,6°C, kết hợp báo cáo thống kê đất đai 27.460,81 ha của Phòng Kinh tế huyện Ba Vì và nhật ký vận hành hồ chứa Suối Hai (dung tích bình thường 46,85 triệu m3), trạm bơm Trung Hà (công suất 9 tổ máy 4.000 m3/h).

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, đề tài thực hiện điều tra toàn diện 100% địa bàn 25 xã, thị trấn thuộc huyện Ba Vì, được phân chia thành 2 tiểu vùng mẫu đại diện hoàn chỉnh: Tiểu vùng đồng bằng và bán sơn địa Trung Hà - Suối Hai (gồm 19 xã với diện tích tự nhiên 15.501,25 ha, diện tích đất nông nghiệp 9.613,73 ha) và Tiểu vùng Núi (gồm 6 xã với diện tích tự nhiên 11.959,56 ha, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 2.504,57 ha). Phương pháp phân vùng mẫu này được lựa chọn vì phản ánh sự khác biệt rõ nét về nguồn nước cấp, đặc điểm địa hình cao trình từ 8,0 mét đến trên 15,0 mét và cơ cấu mùa vụ.

Nghiên cứu ứng dụng phần mềm CROPWAT 8.0 của FAO kết hợp tiêu chuẩn ngành 14TCN 174-2006 để tính toán nhu cầu bốc thoát hơi nước tiềm năng (ETo) và nhu cầu nước thực tế (ETc) cho 4 nhóm cây trồng chủ lực qua các hệ số cây trồng Kc theo từng giai đoạn sinh trưởng. Quá trình phân tích cân bằng nước và tính toán các chỉ số kế toán nước được triển khai liên tục trong timeline 6 tháng nghiên cứu thực địa từ tháng 5/2015 đến tháng 11/2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích cân bằng nước năm 2014 cho thấy Tổng dòng chảy vào (GI) toàn hệ thống đạt 316,46 triệu m3, trong đó dòng chảy thực vào (NI) đạt 316,075 triệu m3. Lượng nước cấp chủ động qua hồ Suối Hai và trạm bơm Trung Hà đạt 55,85 triệu m3 (chiếm 17,6%), trong khi lượng mưa tự nhiên cung cấp 260,60 triệu m3 (chiếm 82,4% tổng lượng nước vào).

Thứ hai, Tổng lượng nước tiêu hao (TD) trong toàn bộ lưu vực là 237,54 triệu m3, chiếm 75,1% tổng dòng chảy thực vào. Trong đó, lượng tiêu hao định trước (PD) phục vụ bốc thoát hơi cho các loại cây trồng nông nghiệp chính (lúa vụ Đông Xuân 4.298 ha, lúa vụ Mùa 4.339 ha, ngô, lạc, đậu tương) đạt 94,56 triệu m3, chiếm 39,8% tổng lượng nước tiêu hao.

Thứ ba, nghiên cứu định lượng được lượng tiêu hao không định trước nhưng có lợi (NPDb) đạt tới 40,41 triệu m3, tương đương 17,0% tổng lượng tiêu hao. Lượng nước này phục vụ trực tiếp cho bốc thoát hơi cây ăn quả và cây lâm nghiệp với 9,86 triệu m3, bốc hơi mặt thoáng của 630,90 ha nuôi trồng thủy sản với 4,12 triệu m3, cấp nước chăn nuôi gia súc gia cầm và cung cấp nước sinh hoạt cho 201.760 cư dân nông thôn với định mức 60 lít/người/ngày-đêm (đạt khoảng 4,42 triệu m3/năm).

Thứ tư, lượng nước tiêu hao không có lợi và tổn thất thấm sâu (tính với cường độ ngấm 2 mm/ngày) cùng lượng bốc hơi mặt đất phi nông nghiệp 2.397,73 ha chiếm khoảng 43,2% tổng tiêu hao. Mặc dù tỷ lệ hoàn thành diện tích tưới theo thiết kế chỉ đạt 45%, hệ số sử dụng nước thực tế của hệ thống kênh đất Trung Hà - Suối Hai vẫn duy trì ở mức 0,55 đến 0,60.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ nguyên nhân căn bản của sự chênh lệch giữa tỷ lệ tưới theo thiết kế thấp (45%) và thực trạng sử dụng nước tại địa phương. Các phương pháp đánh giá cũ đã bỏ sót toàn bộ 40,41 triệu m3 nước tiêu hao có lợi cho các ngành kinh tế phi nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh thái vườn đồi. Trên thực tế, dòng chảy hồi quy và lượng nước ngấm rò rỉ từ kênh mương không hoàn toàn mất đi mà tiếp tục bổ cập cho các tầng nước ngầm nông và ao hồ nội đồng, phục vụ tái tưới cho các vùng trũng hạ lưu.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế tại lưu vực Bhakra (Ấn Độ), Chishtian (Pakistan), Kirindi Oya (Sri Lanka) và Muda (Malaysia với chỉ số hiệu quả dùng nước từ 0,035 đến 0,271 kg/m3), hệ thống Trung Hà - Suối Hai có chỉ số tiêu hao hữu ích ở mức khá, nhưng chỉ số hiệu suất kinh tế SGVP trên mỗi mét khối nước chưa cao do diện tích lúa nước chiếm tỷ trọng lớn tới trên 70% cơ cấu mùa vụ.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu cân bằng nước có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu tiêu hao nước (gồm 39,8% tiêu hao định trước, 17,0% tiêu hao có lợi và 43,2% tiêu hao không có lợi kết hợp dòng chảy ra). Đồng thời, bảng tổng hợp phân phối nhu cầu nước giữa 3 mùa vụ cho thấy nhu cầu tập trung cao nhất vào vụ Mùa với 52,27 triệu m3, tiếp đến là vụ Đông Xuân với 38,04 triệu m3 và thấp nhất là vụ Đông với 3,52 triệu m3.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện kiên cố hóa và nâng cấp kỹ thuật 100% hệ thống kênh tưới chính cấp 1 và cấp 2 thuộc mạng lưới hồ Suối Hai và trạm bơm Trung Hà. Mục tiêu cụ thể là giảm thiểu lượng tổn thất do thấm sâu từ 2,0 mm/ngày xuống dưới 0,8 mm/ngày, nâng cao hệ số sử dụng nước toàn hệ thống từ 0,55 lên 0,70. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2016-2020 do Công ty TNHH MTV Thủy lợi Sông Tích chủ trì phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội.

Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu cây trồng linh hoạt, cắt giảm 15% diện tích lúa kém hiệu quả tại các vùng gò đồi sang trồng ngô, đậu tương, cam, bưởi và cây ăn quả có nhu cầu nước thấp hơn. Giải pháp này hướng tới mục tiêu gia tăng giá trị sản lượng chuẩn hóa SGVP trên 1 m3 nước thêm 25% đến 30%, tiết kiệm khoảng 12 đến 15 triệu m3 nước mỗi năm. Thời gian triển khai từ năm 2016 do Phòng Kinh tế huyện Ba Vì và các Hợp tác xã nông nghiệp chỉ đạo.

Thứ ba, hiện đại hóa quy trình vận hành đóng mở cống tự động và ứng dụng hệ thống quan trắc mực nước từ xa SCADA tại trạm bơm Trung Hà mới (9 tổ máy 4.000 m3/h) và cống lấy nước Suối Hai (lưu lượng thiết kế 5,07 m3/s). Mục tiêu nhằm kiểm soát chính xác lưu lượng phân phối đạt độ tin cậy trên 95%, giảm thất thoát xả thừa xuống dưới 5%. Timeline thực hiện từ năm 2017 đến năm 2018 do Ban Quản lý Khai thác Thủy lợi Sông Tích đảm nhiệm.

Thứ tư, ban hành quy chế phối hợp liên ngành về phân bổ nguồn nước đa mục tiêu giữa sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản trên 917,24 ha mặt nước và cấp nước sinh hoạt cho 201.760 người dân. Đảm bảo cam kết duy trì dòng chảy môi trường tối thiểu và đáp ứng 100% định mức nước sinh hoạt nông thôn 60 lít/người/ngày-đêm. Lộ trình áp dụng từ quý 1 năm 2016 do Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì phối hợp các đơn vị khai thác thủy nông ban hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà quản lý tài nguyên nước tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội cùng Ban lãnh đạo Công ty TNHH MTV Thủy lợi Sông Tích. Luận văn cung cấp khung công cụ kế toán nước chuẩn hóa để điều hành hiệu quả nguồn nước dung tích 46,85 triệu m3 của hồ Suối Hai và các trạm bơm đầu mối.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học thuộc chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước, Kỹ thuật Thủy lợi tại các trường đại học kỹ thuật. Tài liệu mang lại bộ số liệu thực nghiệm chuẩn xác, phương pháp luận tích hợp phần mềm CROPWAT 8.0 để phục vụ nghiên cứu cân bằng nước lưu vực.

Nhóm thứ ba là các kỹ sư tư vấn thiết kế và quy hoạch công trình thủy nông. Nghiên cứu cung cấp hệ số tiêu hao thực tế, chuỗi số liệu bốc thoát hơi nước trạm Ba Vì và hệ số cây trồng Kc làm căn cứ tính toán khẩu độ công trình và kiên cố hóa kênh mương.

Nhóm thứ tư là cán bộ khuyến nông, phòng kinh tế và chính quyền cấp huyện, xã tại khu vực bán sơn địa. Số liệu nhu cầu nước chi tiết của 4 nhóm cây trồng chính giúp xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng tiết kiệm nước, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp kế toán nước khác biệt như thế nào so với phương pháp đánh giá thủy nông truyền thống? Phương pháp truyền thống chỉ đo lường lượng nước cấp cho lúa tại mặt ruộng và coi mọi thất thoát là lãng phí. Ngược lại, kế toán nước đánh giá toàn diện chu trình thủy văn, phân loại rõ tiêu hao định trước cho cây trồng 94,56 triệu m3 và tiêu hao có lợi cho thủy sản, sinh hoạt 40,41 triệu m3, đồng thời tính toán khả năng tái sử dụng của dòng hồi quy.

Tại sao hệ thống chỉ đạt 45% diện tích tưới thiết kế nhưng không bị coi là lãng phí 55% lượng nước? Hệ thống thiết kế ban đầu 28.387 ha chủ yếu cho lúa, nhưng thực tế đã chuyển đổi phục vụ đa mục tiêu. Khoảng 40,41 triệu m3 nước được sử dụng có ích cho cây ăn quả, 917,24 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản, công nghiệp và cấp nước sinh hoạt cho 201.760 người, nên nguồn nước vẫn mang lại giá trị kinh tế cao.

Phần mềm CROPWAT 8.0 được ứng dụng như thế nào trong luận văn? Phần mềm CROPWAT 8.0 kết hợp dữ liệu khí tượng năm 2014 trạm Ba Vì (mưa 1.640,8 mm) và hệ số Kc theo tiêu chuẩn 14TCN 174-2006 để tính toán chính xác nhu cầu bốc thoát hơi nước ETc cho từng loại cây trồng, xác định nhu cầu vụ Mùa là 52,27 triệu m3 và vụ Đông Xuân là 38,04 triệu m3.

Hồ Suối Hai và trạm bơm Trung Hà phối hợp vận hành cấp nước ra sao? Hồ Suối Hai với dung tích trữ bình thường 46,85 triệu m3 cấp nước tự chảy cho 4.500 ha vùng Tây Nam Ba Vì. Trạm bơm Trung Hà lấy nước từ sông Đà (công suất 9 máy mới 4.000 m3/h) tiếp nguồn chủ động cho hệ thống kênh chính, tạo thành mạng lưới liên hoàn hỗ trợ linh hoạt trong mùa khô hạn.

Làm thế nào để nâng cao chỉ số giá trị sản lượng chuẩn hóa SGVP cho hệ thống? Địa phương cần chuyển dịch 15% diện tích lúa năng suất thấp sang các loại cây trồng cạn có giá trị thương phẩm cao như cam, bưởi, đậu tương. Việc này giúp giảm lượng nước tưới tiêu hao định trước và nâng cao giá trị thu nhập trên mỗi mét khối nước khai thác thêm 25% đến 30%.

Kết luận

• Luận văn đã thiết lập thành công mô hình kế toán nước toàn diện cho hệ thống thủy nông Trung Hà - Suối Hai trên quy mô diện tích tự nhiên 27.460,81 ha tại huyện Ba Vì.

• Nghiên cứu định lượng chính xác dòng chảy thực vào đạt 316,075 triệu m3 và tổng lượng tiêu hao đạt 237,536 triệu m3 trong năm 2014.

• Tác giả đã bóc tách rõ ràng 94,56 triệu m3 tiêu hao định trước cho nông nghiệp và 40,41 triệu m3 tiêu hao không định trước nhưng mang lại hiệu ích lớn cho sinh hoạt, chăn nuôi và thủy sản.

• Công trình làm sáng tỏ cơ sở khoa học chứng minh tỷ lệ diện tích tưới 45% (12.387 ha) không đồng nghĩa với lãng phí tài nguyên nhờ tính đến dòng hồi quy và cấp nước đa mục tiêu.

• Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp công trình và quản lý vận hành đồng bộ, giúp nâng cao hệ số sử dụng nước lên 0,70 và gia tăng giá trị kinh tế trên đơn vị nước tưới thêm 25% đến 30%.

Về kế hoạch triển khai tiếp theo, các cơ quan quản lý cần ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý GIS giai đoạn 2016-2020 để theo dõi lượng bốc thoát hơi nước theo thời gian thực. Độc giả, các nhà nghiên cứu và kỹ sư thủy lợi quan tâm nên tiếp tục mở rộng áp dụng khung kế toán nước này cho các hệ thống thủy nông liên tỉnh, góp phần hiện đại hóa công tác quản trị tài nguyên nước quốc gia.