ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên đa dạng sinh học trong các khu rừng đặc dụng luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau làm cho thay đổi nhƣ: phá rừng, săn bắt động vật rừng, chăn thả gia súc, chuyển đổi mục đích sử dụng,. Bên cạnh đó, ban quản lý rừng đặc dụng thƣờng xuyên thực hiện các hoạt động quản lý (tuần tra bảo vệ rừng, kiểm soát việc buôn bán động vật hoang dã, truyên truyền nâng cao nhận thức về công tác bảo tồn,…) nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực và tạo các điều kiện thuận lợi cho tài nguyên đa dạng sinh học duy trì và phát triển. Giám sát đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học. Giám sát đa dạng sinh học giúp xác định cụ thể sự biến đổi của các loài, môi trƣờng sống của chúng và nguyên nhân tác động là cần thiết nhằm giúp Ban quản lý lựa chọn và đƣa ra các giải pháp thích hợp để quản lý tốt nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của khu bảo tồn.
SMART là từ viết tắt của Spatial Monitoring and Reporting Tool với tên tiếng Việt là Công cụ quản lý dữ liệu và báo cáo tuần tra. SMART đƣợc xây dựng nhằm cải thiện khả năng thực thi pháp luật và giám sát đa dạng sinh học tại các Khu bảo tồn thiên nhiên. Nhờ tính ứng dụng cao trong công tác giám sát thực thi pháp luật và bảo tồn đa dạng sinh học, SMART nhanh chóng đƣợc phổ biến rộng rãi. Đây là phần mềm mới đƣợc xây dựng dựa trên mã nguồn mở và có tính ứng dụng cao đƣợc phát triển bởi sự hợp tác đa phƣơng giữa các tổ chức bảo tồn và các tổ chức liên quan gồm có: Chƣơng trình Giám sát săn bắn Voi trái phép của CITES (MIKE), Hội động vật Frankfurt (FZS), Vƣờn thú Bắc Carolina (NCZ), Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS), Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) và Hiệp hội vƣờn thú Luân Đôn (ZSL).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) là loài linh trƣởng đặc hữu của Việt Nam, loài này hiện chỉ đƣợc ghi nhận tại một số hòn đảo thuộc Vƣờn quốc gia Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Theo danh lục Sách Đỏ thế giới (IUCN Red List, 2016) loài này đƣợc xếp vào bậc Cực kỳ nguy cấp - CR (Critically Endangered) [17] và Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp vào bậc Nguy cấp - EN (Endangered) [1]; Theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP nằm trong danh lục nhóm IB, nghiêm cấm khai thác và sử dụng [3] và nằm trong danh mục loài nguy cấp quý hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP [4]. Ngoài ra, Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) cùng với Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) và Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) là 3 loài linh trƣởng của Việt Nam nằm trong danh sách 25 loài Linh trƣởng nguy cấp nhất thế giới giai đoạn 2014 - 2016 [24]. Các cuộc điều tra thực địa năm 2013 và những thông tin cập nhật từ công tác thực địa cho thấy rằng còn 2 quần thể sinh sản và một vài cá thể/nhóm cá thể.
Một quần thể sinh sản ở Vƣờn quốc gia (VQG) Cát Bà có khoảng 31 cá thể; quần thể sinh sản thứ hai ở khu Cửa Đông và Việt Hải gần thị trấn Cát Bà có 22 con. Năm cá thể Voọc cái khác nữa ở xã Gia Luận, bị cách ly không có cơ hội sinh sản. Do đó, tổng số cá thể Voọc đƣợc ghi nhận tại Vƣờn quốc gia Cát Bà là khoảng 58 cá thể [18]. Đối với quần thể Voọc Cát Bà từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều các nghiên cứu về tập tính, vùng sống, sinh thái và thức ăn nhƣng chƣa có một chƣơng trình giám sát cụ thể nào đƣợc xây dựng, thực hiện.
Loài Voọc Cát Bà đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ đe dọa, làm cho suy thoái hoặc biến mất nếu không có biện pháp quản lý, bảo tồn kịp thời, hiệu quả. Các mối đe dọa đối với loài này nhƣ: săn bắt, bẫy bắt động vật hoang dã; khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ; phát triển du lịch sinh thái không bền vững,… Hiện nay, việc giám sát loài Voọc Cát Bà do VQG Cát Bà chủ yếu thực hiện thông LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 qua các cuộc tuần tra mà chƣa ghi nhận các chỉ số giám sát một cách cụ thể và hệ thống. Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giám sát loài Voọc Cát Bà cần ứng dụng một phần mềm giúp quản lý, lƣu trữ các số liệu và xuất các báo cáo giám sát là hết sức cần thiết. Với những lý do trên, mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xây dựng chƣơng trình giám sát cho loài Voọc Cát Bà; Xây dựng quy trình thu thập, nhập dữ liệu, xử lý dữ liệu giám sát loài sử dụng phần mềm SMART và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn loài Voọc Cát Bà.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giám sát đa dạng sinh học 1. Khái niệm giám sát đa dạng sinh học Giám sát đa dạng sinh học (ĐDSH) là sử dụng các kỹ thuật quan trắc để theo dõi sự thay đổi theo thời gian và không gian của các thành phần ĐDSH (thảm thực vật, các kiểu sinh cảnh, các quần thể động vật, thực vật,.) dƣới tác động của con ngƣời và thiên nhiên; thu thập thêm các thông tin về vùng phân bố và tình trạng quần thể của các loài quan trọng còn ít đƣợc nghiên cứu. Giám sát ĐDSH cũng xác định các loại đe dọa đối với ĐDSH đang tồn tại trong khu bảo tồn, cƣờng độ của mỗi đe dọa và sự thay đổi phạm vi, cƣờng độ của các đe dọa đến ĐDSH theo thời gian và không gian.
Kết quả của giám sát ĐDSH thể hiện tính phù hợp và hiệu quả của các hoạt động quản lý đƣợc thực hiện. Dựa vào kết quả giám sát ĐDSH, Ban quản lý VQG sẽ tiến hành điều chỉnh các hoạt động quản lý cho phù hợp và đạt hiệu quả cao hơn. Khái niệm “chỉ thị giám sát” đa dạng sinh học Giám sát ĐDSH đƣợc thực hiện thông qua các yếu tố sinh thái mang tính chỉ thị cho: - Tình trạng các quần xã sinh vật hoặc các sinh cảnh quan trọng trong khu bảo tồn. - Tình trạng tác động tiêu cực đến các thành phần ĐDSH trong khu bảo tồn.
- Hiệu quả của các hoạt động quản lý đƣợc thực hiện trong khu bảo tồn Các yếu tố sinh thái này đƣợc gọi là các "chỉ thị giám sát" (Monitoring indicators). Các chỉ thị giám sát có thể là các yếu tố sinh vật (các quần thể thực vật hoặc động vật, các hệ sinh thái, các sinh cảnh nhạy cảm,.) hoặc các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 yếu tố phi sinh vật (hoạt động khai thác gỗ, săn bắt động vật rừng, khai thác khoáng sản, hiện tƣợng cực đoan của thiên nhiên,. Tùy thuộc vào khả năng tiếp cận để quan trắc thu thập số liệu, chỉ thị giám sát có thể bao gồm "chỉ thị sơ cấp" còn gọi là "chỉ thị cấp 1" hoặc "chỉ thị thứ cấp", còn gọi là "chỉ thị cấp 2". Chỉ thị sơ cấp là chỉ thị mà ngƣời giám sát có thể thực hiện quan trắc trực tiếp chỉ thị đó.
Trong trƣờng hợp, ngƣời giám sát không thể quan trắc trực tiếp chỉ thị đó mà phải quan trắc gián tiếp qua các chỉ thị khác, thì đó là những chỉ thị thứ cấp. Các chỉ số giám sát đa dạng sinh học Các chỉ số giám sát là những thông số đƣợc tính toán trên cơ sở các thông tin/số liệu quan trắc đƣợc từ các chỉ thị giám sát nhằm biểu thị sự thay đổi tình trạng của chỉ thị giám sát theo thời gian. Đối với các chỉ thị giám sát là yếu tố sinh vật, các chỉ số giám sát có thể là: thành phần loài, mật độ cá thể, tần suất bắt gặp cá thể, mật độ dấu chân, tần suất bắt gặp dấu chân, tần số sinh trƣởng, mật độ cây tái sinh. Đối với các chỉ thị giám sát là yếu tố phi sinh vật, các chỉ số giám sát có thể là: tần suất bắt gặp thợ săn, mật độ lán khai thác lâm sản, số lƣợng bẫy bắt gặp trong rừng.
Khái niệm “chu kỳ giám sát” Giám sát ĐDSH đƣợc tiến hành một cách thƣờng xuyên, có hệ thống và thƣờng bao gồm các bƣớc sau: - Điều tra xác định tình trạng của chỉ thị giám sát tại thời điểm ban đầu. - Điều tra lại tình trạng của chỉ thỉ giám sát đó vào những khoảng thời gian nhất định, có độ dài nhƣ nhau (1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hoặc 1 năm,. - So sánh các kết quả điều tra tình trạng chỉ thị giám sát ở các khoảng thời gian đã thực hiện để xác định xu thế biến đổi của chỉ thị giám sát. - Xác định các nguyên nhân gây ra xu thế biến đổi của chỉ thị và đề xuất các giải pháp xử lý.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nhƣ vậy, trong chƣơng trình giám sát ĐDSH, các hoạt động điều tra giám sát đƣợc tiến hành lặp lại theo những khoảng thời gian nhất định đƣợc gọi là "chu kỳ giám sát". Điều rất quan trọng là phải đảm bảo "tính ổn định'' trong tất cả các chu kỳ giám sát, nghĩa là, trong tất cả các lần thực hiện điều tra giám sát, phải đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ lại tất cả những gì đã làm trong lần điều tra giám sát đầu tiên về phƣơng pháp, địa điểm, thời gian và nhân lực. Một sự thay đổi dù là nhỏ về phƣơng pháp, thời gian hoặc nhân lực sẽ làm giảm tính chính xác của chƣơng trình giám sát đang thực hiện. Chu kỳ giám sát có thể là 1 tháng (cứ mỗi tháng thực hiện điều tra một lần), 3 tháng (cứ 3 tháng thực hiện điều tra một lần), 6 tháng (cứ 6 tháng thực hiện điều tra một lần),.Việc lựa chọn độ dài của chu kỳ giám sát đƣợc dựa trên tốc độ biến động của chỉ thị giám sát, mức độ của áp lực đe dọa và khả năng nguồn lực có đƣợc cho hoạt động giám sát (nhân lực, tài chính, vật tƣ thiết bị.
Phần mềm SMART 1. Ứng dụng của phần mềm SMART trong bảo tồn loài Các chức năng cơ bản của phần mềm SMART là thu thập và quản lý thông tin.