MỞ ĐẦU 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI. Vấn đề tai nạn giao thông hiện nay là vấn đề nóng, được xã hội đặc biệt quan tâm vì nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân. Hậu quả của tai nạn giao thông lại là những nỗi đau thương mất mát mà không có gì có thể bù đắp và xoa dịu. Đặc biệt, ở những tỉnhlớn, nơi mà mật độ giao thông mỗi ngày một tăng, thì đây lại càng là vấn đề bức xúc của người dân.
Theo thống kê, mỗi năm trên toàn cầu tai nạn giao thông đường bộ đã cướp đi sinh mạng của 1,2 triệu người, làm bị thương hoặc tàn tật từ 20 đến hơn 50 triệu người. Có khoảng hơn 40% các trường hợp chết do Tai nạn giao thông đường bộ rơi vào nhóm người từ 0-25 tuổi. Trừ khi có biện pháp tác động mạnh mẽ nhằm ngăn chặn xu hướng này, số người chết và bị thương do tai nạn giao thông đường bộ còn tiếp tục tăng trong ba thập kỷ tiếp theo và là nguyên nhân gây ra tử vong đứng thứ 8 vào năm 2030. Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong năm 2005 đã có gần 440.000 người chết vì tai nạn giao thông.
Số tai nạn trong khu vực này cao gấp hai lần so với thế giới. Theo dự báo với đà phát triển giao thông hiện nay thì đến năm 2010 số vụ tai nạn giao thông ở khu vực này sẽ tăng đến 660.000 người chết (chiếm 2/3 số người chết do tai nạn giao thông trên toàn thế giới), và đến năm 2020 số người chết do tai nạn giao thông có thể vượt quá số người chết do nhiễm HIV và lao phổi. Đối với đấ t nước Viê ̣t Nam , tai nạn giao thông đã đến mức báo động. An toàn giao thông (ATGT) không còn chỉ là vấn đề y tế công cộng mà còn là vấn đề kinh tế, xã hội.
ATGT đường bộ thực sự cần sự phối hợp mạnh mẽ giữa các bộ, ngành, đoàn thể dưới sự lãnh đạo mạnh mẽ của Chính phủ. Ở Việt Nam, trung bình có hơn 11.000 người chết và hàng chục ngàn người bị thương hàng năm do tai nạn giao thông đường bộ. Thanh thiếu niên Việt Nam trong độ tuổi từ 15 đến 24 chiếm khoảng 20% dân số toàn quốc, tuy nhiên lứa tuổi này lại là nạn nhân của khoảng 40% tổng số các tai nạn nghiêm trọng. Những người chết và bị thương do tai nạn giao thông không chỉ gây tổn thất cho chính họ, cho gia đình và cộng đồng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế.
Ngân hàng phát triển châu á ước tính mỗi năm thiệt hại do tai nạn giao thông đường bộ gây ra HVTH: Trần Dương Hùng trang - 8 - Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Chu Công Minh tại Việt Nam là khoảng 885 triệu USD. Theo báo cáo từ Ủy ban An toàn giao thông quốc gia năm 2009, tình hình tai nạn giao thông diễn biến theo chiều hướng tích cực hơn nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra về số vụ, số người chết và số người bị thương, còn xảy ra nhiều vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng cụ thể là: cả nước xảy ra 12.492 vụ tai nạn giao thông, làm chết 11.516 người, bị thương 7.914 người, so với năm 2008 giảm 390 vụ (giảm 3%), giảm 78 người chết (giảm 0,7%), giảm 152 người bị thương (giảm 1,9%). Tuy nhiên, đáng chú ý là trong năm xảy ra 141 vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, làm chết 439 người, bị thương 456 người, so với năm 2008 tăng 11 vụ, tăng 45 người chết. Trong đó, 30 vụ do xe khách gây ra, làm chết 121 người chết mà nguyên nhân chủ yếu do đi không đúng phần đường, vi phạm tốc độ, tránh vượt sai quy định.
Có tới 85,5% số vụ tai nạn giao thông được xác định do lỗi của người tham gia giao thông cho thấy ý thức chung của người tham gia giao thông vẫn còn nhiều yếu kém. Tai nạn giao thông chủ yếu vẫn do lỗi vi phạm tốc độ quy định, đi không đúng làn đường, phần đường, chở quá số người quy định, sử dụng rượu bia, vượt đường ngang đường sắt sai quy định,…Trong khi đó, khả năng đáp ứng của hạ tầng giao thông so với số lượng phương tiện, nhu cầu đi lại của người dân ngày càng khó khăn, bất cập cũng là thách thức đối với việc đưa ra lời giải hiệu quả cho bài toán bảo đảm ATGT. Riêng trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai, tình hin ̀ h tai na ̣n giao thông trong năm 2009 xảy ra 393 vụ, làm chết 401 người, bị thương nặng 106 người, bị thương nhẹ 172 người. So cùng kỳ năm 2008: giảm 81 vụ (giảm 17%), giảm 64 người chết (giảm 13,7%), giảm 38 người bị thương nặng (giảm 26,3%).
Tính tỷ lệ trên 10.000 phương tiện cơ giới là 8,2 vụ, 8,5 người chết và 2,3 số người bị thương nặng. Tai nạn do xe ôtô gây ra chiếm 24,9% số vụ, môtô chiếm 64,9%, thô sơ 2,2%, bộ hành 7,9%. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng xảy ra giảm 02 vụ (04/06 vụ = 33,3%), giảm 07 người chết (12/19 người = 36,8%). + Các tuyến quốc lộ (1A, 20, 51, 56): Xảy ra 190 vụ (chiếm 50,6% tổng số vụ), làm chết 214 người (chiếm 55,4%), bị thương nặng 48 người (chiếm 45,7%).
HVTH: Trần Dương Hùng trang - 9 - Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Chu Công Minh So sánh cùng kỳ của năm 2008, giảm 64 vụ (= 25,1%), giảm 59 người chết (= 21,7%), giảm 16 người bị thương nặng (= 25%). + Nội thị: Xảy ra 48 vụ (chiếm 12,8%), làm chết 33 người (chiếm 8,8%), bị thương nặng 26 người (chiếm 6,7%). So sánh năm 2008, giảm 07 vụ (= 12,7%), số người chết chưa giảm (33/33 người), bị thương nặng giảm 04 người (= 13,3%). + Các tuyến đường tỉnh, huyện, xã: Xảy ra 135 vụ (chiếm 36%), làm chết 138 người (chiếm 35,7%), bị thương nặng 30 người (chiếm 28,5%).
So sánh năm 2008 số vụ chưa giảm (135/135 vụ), tăng 01 người chết (=0,72%) bị thương nặng giảm 16 người (=34,7%). - Tai nạn giao thông đường sắt: Xảy ra 11 vụ (giảm 08 vụ = 42,1%), làm chết 11 người (giảm 07 người = 38,8%). - Tai nạn giao thông đường thủy: Xảy ra 07 vụ (giảm 01 vụ = 12,5%), làm chết 04 người (giảm 02 người = 33,3%). Nguyên nhân chủ quan dẫn đế n tin ̀ h hin ̀ h tai na ̣n giao thông ta ̣i tin ̉ h Đồ ng Nai phức ta ̣p là do: + Ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông tuy đã có những chuyển biến do tác động tích cực và mạnh mẽ của các chiến dịch truyền thông và cưỡng chế xử lý vi phạm, nhưng vẫn còn một bộ phận người tham gia giao thông chưa tự giác chấp hành, thậm chí còn cố tình vi phạm và thách thức pháp luật.
+ Công tác quản lý vận tải đường bộ, vận tải thủy, quản lý bến khách ngang sông…còn nhiều hạn chế. Một số lãnh đạo chính quyền địa phương cấp cơ sở chưa thực sự quan tâm và chỉ đạo đúng mức. + Tai nạn giao thông đường bộ: Do kỹ thuật phương tiện 1,5%; do đường sá 3%, tự té 2,6%; do lỗi của con người 92%, trong đó tập trung các lỗi: Xe ôtô, môtô lưu thông lấn trái tim đường 48,3%; đi không đúng phần đường, đi ngược chiều 34,7%; thiếu chú ý quan sát 30,9%, bất ngờ qua đường, chuyển hướng không nhường đường 29,4%; tránh, vượt không đúng luật 22,6%; vi phạm tốc độ 15%; say rượu, bia 2. + Tai nạn giao thông đường sắt: 07 vụ lỗi do bộ hành nằm, ngồi, chơi đùa trên đường sắt (chiếm 63,6%), 03 vụ qua đường ngang bất cẩn (chiếm 27,2%), đặt vật cản trên đường sắt 01 vụ (chiếm 9%).
HVTH: Trần Dương Hùng trang - 10 - Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Chu Công Minh + Tai nạn giao thông đường thủy do vi phạm quy tắc giao thông 04 vụ (chiếm 57,1%), phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật 02 vụ (chiếm 28,5%), do luồng tuyến, dòng chảy 01 vụ (chiếm 14,2%). Ngoài ra, còn nguên nhân khác quan dẫn đến tình hình tai nạn giao thông là do: + Hạ tầng giao thông không những chưa được cải thiện mà ngày càng bị xuống cấp nghiêm trọng, nhất là các trục giao thông quốc gia. + Số lượng phương tiện cơ giới đường bộ tăng nhanh gấp nhiều lần so với tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng, gây sức ép rất lớn đến hoạt động lưu thông và công tác trật tự ATGT. Về t ình hình trật tự an toàn giao thông, ùn tắc giao thông: mặc dù số lượng phương tiện đăng ký tăng cao (xe ôtô tăng 11,3%; xe môtô, xe gắn máy tăng 9,3% cộng với lưu lượng phương tiện cơ giới tham gia giao thông hàng ngày trên Quốc lộ 1A (đoạn thành phố Biên Hòa) là 53.000 xe môtô, xe gắn máy; Quốc lộ 20: 6.500 xe môtô, xe gắn máy và Quốc lộ 51: 19.500 xe môtô, xe gắn máy.
Nhưng do tổ chức tốt việc hướng dẫn, phân luồng nên tình hình ùn tắc giao thông ít gay gắt hơn. Vấn đề tai nạn giao thông là một mối quan tâm lo lắng của toàn thể xã hội, đặc biệt là của nhà nước ta. Điều này đã được thể hiện rõ thông qua các qui định chính sách được ban hành, cũng như là việc thành lập các tiểu ban chuyên trách về vấn đề này từ trung ương tới địa phương. Trong nhiều năm qua, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia đã luôn bám sát theo dõi, tìm hiểu nguyên nhân và thường xuyên đưa ra các biện pháp để nâng cao an toàn giao thông như: nâng cấp cải tạo và xây dựng mới nhiều tuyến quốc lộ, tỉnh lộ; xử lý các “điểm đen”, là nơi thường xuyên xảy ra các tai nạn nghiêm trọng; hạn chế tốc độ; tăng cường các biện pháp tổ chức giao thông như sơn vạch, biển báo, hoàn thiện hệ thống đèn tín hiệu, bố trí các gờ giảm tốc tại các vị trí cần thiết giảm tốc; mở đường vòng qua thành phố, đô thị lớn; qui định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy trên các tuyến đường; giáo dục và có biện pháp chế tài đối với các lái xe không chấp hành luật giao thông; tổ chức các cuộc hội thảo với nhiều tầm cỡ, qui mô….
HVTH: Trần Dương Hùng trang - 11 - Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Chu Công Minh Những con số thống kê ở trên đã nói lên hết tất cả tầm quan trọng của việc ngăn chặn tai nạn giao thông xảy ra.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI.