Chương 1: Tổng quan - Chương 2: Nghiên cứu bê tông cường độ cao cấp 60MPa đến 80MPa sử dụng vật liệu địa phương khu vực Đông Nam Bộ ứng dụng cho dầm bê tông dự ứng lực đúc sẵn. 3 - Chương 3: Nghiên cứu lựa chọn kết cấu dầm bê tông dự ứng lực đúc sẵn với bê tông cường độ 60MPa đến 80MPa ứng dụng cho xây dựng công trình giao thông khu vực Đông Nam Bộ. - Chương 4: Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế kỹ thuật kết cấu nhịp cầu dùng dầm I cánh rộng với bê tông cường độ cao so với các kết cấu dầm bê tông dự ứng lực thông thường hiện nay - Kết luận và Kiến nghị. Ngoài ra là các phần Tài liệu tham khảo, danh mục công bố của Tác giả và phần phụ lục các bảng tính toán kiểm toán kết cấu.
Nhu cầu phát triển giao thông khu vực Đông Nam Bộ.1 Giới thiệu về vùng Đông Nam Bộ. Vùng Đông Nam Bộ bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh là một trong hai phần của miền nam Việt Nam. Trong đó Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền nam, Đồng Nai và Bình Dương là hai tỉnh rất phát triển về công nghiệp, Bà Rịa-Vũng Tàu là tỉnh phát triển về du lịch, dầu khí và cả công nghiệp. Riêng hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước tình hình phát triển kinh tế - xã hội chưa cao.
Hình 1-1: Bản đồ vị trí địa lý vùng Đông Nam Bộ. Đông Nam Bộ là vùng có tốc độ phát triển kinh tế nhất Việt Nam, dân số đông và dẫn đầu cả nước về xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài, GDP, cũng như nhiều yếu tố kinh tế - xã hội khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI của khu vực này dẫn dầu cả nước, nổi bật ở các tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh 5 và Bà Rịa - Vũng Tàu, bốn tỉnh thành này còn gọi là tứ giác kinh tế trọng điểm, chiếm 1/3 GDP cả nước, đóng góp trên 50% ngân sách. [3] Đông Nam Bộ có diện tích tự nhiên 23.597,9 km2 , Đông Nam Bộ là vùng đất mới trong lịch sử phát triển của đất nước, khu vực tập trung nhiều đô thị nằm giữa các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên là những vùng giàu tài nguyên đất đai, rừng và khoáng sản.
Phía Tây và Tây - Nam giáp đồng bằng sông Cửu Long nơi có tiềm năng lớn về nông nghhiệp, là vựa lúa lớn nhất nước ta; phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, giàu tài nguyên hải sản, dầu mỏ và khí đốt và thuận lợi xây dựng các cảng biển tạo ra đầu mối liên hệ kinh tế thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế; phía Tây Bắc giáp với Campuchia có cửa khẩu Tây Ninh tạo mối giao lưu rộng rãi với Campuchia, Thái Lan, Lào, Mianma. Với vị trí này Đông Nam Bộ là đầu mối giao lưu quan trọng của các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế.2 Tình hình phân bố dân cư và mức độ phát triển đô thị của khu vực Đông Nam Bộ. Theo kết quả điều tra dân số ngày 1/4/2010, dân số vùng Đông Nam Bộ là 14,566.5 nghìn người, chiếm 16,34% dân số Việt Nam , là vùng có tốc độ tăng dân số cao nhất nước, do thu hút nhiều dân nhập cư từ các vùng khác đến sinh sống. Trong đó, Bình Phước có 894.3 nghìn người, Tây Ninh có 1,075.3 nghìn người, Bình Dương có 1619.9 nghìn người, Đồng Nai có 2,569.4 nghìn người, Bà Rịa-Vũng Tàu có 1,012.0 nghìn người và Thành Phố Hồ Chí Minh có 7,396.5 nghìn người.
Dân số Đông Nam Bộ có cơ cấu trẻ, tỉ lệ nữ là 51.41%, cao hơn mức trung bình của toàn quốc ( 50.8%), tỉ lệ biết chữ của dân số Đông Nam Bộ là 98%, mật độ dân số của Đông Nam Bộ là 617 người / km2, song dân cư phân bố không đều giữa các tỉnh và thành phố. Có thể thấy rằng dân số tập trung chủ yếu ở thành phố lớn, các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu. Nguồn nhân lực dồi dào có truyền thống và kinh nghiệm sản xuất, có lực lượng lao động chuyên môn cao, công nhân tay nghề cao. Đông Nam Bộ là vùng có mức độ đô thị hóa cao và phát triển nhanh chóng.
6 Dân thành thị là 25% trong khi các vùng khác con số này dao động ở mức trên dưới 20 %. Tài nguyên văn hóa, lịch sử với các di tích ở Đông nam Bộ khá tập trung và có mật độ cao nhất so với các vùng phía Nam. Đây là nơi có nền kinh tế hàng hóa phát triển sớm nên người dân năng động và thích ứng nhanh với sự đổi mới kinh tế, đồng thời đây cũng là thị trường tiêu thụ lớn của cả nước. Đây cũng là vùng có cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng phát triển mạnh kết họp với sự phát triển của mạng lưới đô thị đã hình thành nhiều khu công nghiệp và khu chế xuất lớn, từ đó cũng thu hút lượng công nhân lớn và kéo theo đó là đội ngũ phục vụ đông đảo.
Mật độ dân số tập trung cao ở các khu công nghiệp và vùng lân cận gây khó khăn không nhỏ cho hệ thống giao thông và tình hình an ninh trật tự khu vực. Tỷ suất nhập cư cả khu vực Đông Nam Bộ là 10.3% tính vào năm 2005 và tăng đều đến năm 2010 đạt 24.8% cao nhất cả nước. Tuy nguồn nhân lực dồi dào, nhưng lực lượng lao động vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển kinh tế của cả vùng về lượng và về chất. Do đó, sẽ có sự di chuyển lao động trong nội bộ vùng và từ ngoài vào; mặt khác do sự chênh lệch thu nhập dẫn đến làn sóng di dân tới các đô thị trong vùng, từ đó nảy sinh nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết như: - Di dân quá nhanh vào các đô thị hiện có như thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Vũng Tàu, Thủ Dầu Một.
làm quá tải so với khả năng đáp ứng về các điều kiện kết cấu hạ tầng đô thị, gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường. - Nhiều điểm dân cư tập trung đang có xu hướng trở thành đô thị, song chưa có đủ điều kiện về kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội. - Nhiều khu công nghiệp tập trung đang trong quá trình hình thành và phát triển cũng có nhu cầu tạo lập thêm các điểm dân cư đô thị mới. Khu vực Đông Nam Bộ tập trung nhiều đô thị lớn, có thể điểm qua một số khu vực điển hình sau: 7 - Thành phố Hồ Chí Minh gồm nhiều khu đô thị đã và đang phát triển, hiện tại các quận 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, Bình Thạnh, Thủ Đức là những khu đô thị đã hình thành với quy mô rất lớn.
Các nơi khác như quận 2, quận 9, quận 12 đang có tốc độ đô thị hóa rất cao. Ngay cả ở các huyện Hóc Môn, huyện Củ Chi, huyện Nhà Bè cũng đang hình thành một số khu đô thị mới. Gần đây nhất, với quyết định hình thành Thành phố Thủ Đức là tiền đề cho một bước phát triển mạnh mẽ quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh. - Bình Dương hiện tại có 3 đô thị: Khu đô thị trung tâm (thành phố Thủ Dầu Một, đô thị Nam Tân Uyên, Nam Bến Cát), khu đô thị phía nam (thị xã Thuận An, Thị xã Dĩ An) và khu đô thị phía bắc (Dầu Tiếng, Phú Giáo, Bắc Bến Cát, Bắc Tân Uyên).
Trong đó dân số đô thị khoảng 2 triệu người, chiếm 80% dân số toàn tỉnh. - Đồng Nai hiện tại có các khu đô thị: Thành phố Biên Hòa, Đô thị Long Thành, Thành phố Long Khánh và theo quy hoạch sẽ có Thành phố Nhơn Trạch. - Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gồm các khu đô thị: Thành phố Vũng Tàu, khu đô thị mới Phú Mỹ, thành phố Bà Rịa. Các khu đô thị lớn này có tốc độ đô thị hóa rất cao, do chênh lệch thu nhập với các vùng khác dẫn đến tình trạng di dân ồ ạt từ các tỉnh lân cận về đô thị.
Tình trạng chung của các đô thị này là: nhu cầu về nhà ở lớn, nhu cầu giao thông cá nhân và luân chuyển hàng hóa lớn vượt quá khả năng của hệ thống hạ tầng hiện hữu.3 Tình hình giao thông ở các khu đô thị hiện hữu trong khu vực. Mỗi đô thị có thể phân loại thành 2 hệ thống giao thông đường bộ: mạng lưới giao thông đối nội và mạng lưới giao thông đối ngoại. Do lịch sử hình thành và phát triển của đô thị, hệ thống mạng lưới đường đối nội của các đô thị lớn trong vùng được đầu tư xây dựng qua nhiều thời kỳ khác nhau nên đặc điểm khá đa dạng. Trong khu vực trung tâm, hệ thống các đường đối nội thường được bố trí theo dạng hỗn hợp, tạo thành một mạng lưới đường dày đặc và thường không theo quy luật cụ thể.
Ngược lại, ở giữa khu đô thị mới và và khu vực 8 vùng ven chỉ có một số đường chính, từ các đường chính này hình thành các cụm khu dân cư với mạng lưới đường nhánh thường là mạng ô cờ. Tình hình giao thông ở khu vực trung tâm đô thị lớn thường rất phức tạp, cơ bản vẫn do tình tình phát triển phương tiện giao thông cá nhân vượt mức kiểm soát. Nhìn chung quá trình phân tích tình hình giao thông có thể chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn cao điểm và giai đoạn thấp điểm. Trong giai đoạn cao điểm, giao thông khá hỗn loạn tại các nút giao do lưu lượng xe cá nhân tập trung cao, mặt khác hầu hết các nút giao trong các đô thị là nút giao đồng mức, nên rất khó điều tiết giao thông khi lưu lượng vượt khả năng lưu thông.
Trong giai đoạn thấp điểm thường xảy ra vấn đề các phương tiện giao thông thường không tuân thủ luật giao thông ở các tuyến nhiều làn xe hỗn hợp hoặc đường không có giải phân cách cứng, dẫn đến nhiều tai nạn và sự cố phát sinh ngoài ý muốn. Hệ thống đường đối ngoại của các đô thị trong khu vực Đông Nam Bộ đa số là các tuyến đường vận tải hàng hóa trọng yếu, kết nối với các khu công nghiệp, với bến cảng, kho bãi. Tình hình giao thông điển hình là lưu lượng xe tải tập trung cao kết hợp thêm một số điểm đông dân cư lân cận các khu công nghiệp dẫn đến ùn tắc cục bộ xảy ra thường xuyên tại các điểm đông dân cư vào giờ cao điểm.