CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ MÔ HÌNH THỦY VĂN PHÂN BỐ TRONG ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THAY ĐỔI THẢM PHỦ ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG CẦU 1.1 Tổng quan về công nghệ Viễn thám Viễn thám là một khoa học và một nghệ thuật của sự nghiên cứu các thông tin thu nhận được thông qua sự phân tích các dữ liệu nhận được bằng các công cụ kỹ thuật mà không tiếp xúc với đối tượng, một vùng hoặc một hiện tượng nào đấy. Công nghệ viễn thám là một kỹ thuật đa ngành, nó liên kết nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau trong các công đoạn khác nhau như: - Thu thập thông tin; - Tiền xử lý thông tin; - Phân tích và giải đoán thông tin; - Đưa ra các sản phẩm dưới dạng bản đồ chuyên đề và tổng hợp; Công nghệ viễn thám là sản phẩm khoa học được ứng dụng rộng rãi từ những năm 1970 của thế kỷ trước, phổ biến ở các nước có nền kinh tế mạnh như Mỹ, Anh, Canada, Nhật Bản, Pháp, và Đài Loan (Trung Quốc). Lịch sử ứng dụng công nghệ viễn thám cho các mục đích dân sự được bắt đầu vào năm 1972 khi vệ tinh Landsat cung cấp các bức ảnh vệ tinh đầu tiên. Đến nay, trên thế giới có khoảng 50 vệ tinh có mục đích sử dụng là “viễn thám” trong tổng số hơn 1.200 vệ tinh đang hoạt động.
Hầu hết các vệ tinh do các cường quốc vũ trụ là Mỹ, Nga, Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc phát triển và phóng lên quỹ đạo. Nhìn chung, số lượng vệ tinh viễn thám ngày càng tăng về số lượng và đa dạng về chủng loại (đa phổ, siêu phổ, radar, camera), về kích thước (micro, vệ tinh nhỏ, vệ tinh), quỹ đạo (quỹ đạo thấp, quỹ đạo cực, quỹ đạo đồng bộ mặt trời) và có xu hướng được phát triển thành các chùm vệ tinh. [1] 4 Công nghệ viễn thám là một trong những thành tựu kỹ thuật vũ trụ trong những thập niên gần đây đã đạt đến trình độ cao và trở thành kỹ thuật phổ biến cho nhiều nước trên thế giới không những đối với các nước đang phát triển có trình độ tiên tiến mà còn đối với các nước đang phát triển có nền công nghiệp và kinh tế còn lạc hậu. Năm 1982, trong Hội nghị sử dụng vũ trụ vào mục đích hòa bình do Liên hợp quốc tổ chức tại Viên (Áo) (UNISPACE) đã có một nghị quyết quan trọng là việc chuyển giao kỹ thuật tiên tiến này cho tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Đó là trách nhiệm của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế,. để nhanh chóng giúp đỡ các nước đang phát triển có những hiểu biết chính xác về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường ở các nước đó. Hiện nay có rất nhiều loại vệ tinh, tàu vũ trụ điều tra thiên nhiên của nhiều nước khác nhau phóng lên như: Mỹ, Pháp, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Cơ quan vũ trụ Châu Âu,. với số lượng trạm thu mặt đất cũng nhiều hơn như: Cuiaba (Brazil), Prince Albert (Canada), Fairbank (Alaska, Mỹ), Green Belt (Mariland, Mỹ), Kiruna (Thụy Điển), Fucino (Ytalia), Tookyo (Nhật Bản),.
đã mang lại những hiệu quả to lớn. [2] Viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) đang cung cấp các công cụ mới để nâng cao việc quản lý hệ sinh thái. Việc thu thập dữ liệu từ xa tạo điều kiện cho các phân tích tổng hợp về chức năng của hệ thống Trái đất, mô hình và thay đổi theo quy mô địa phương, vùng và toàn cầu theo thời gian; các dữ liệu này cũng là mối liên kết quan trọng giữa nghiên cứu sinh thái sâu rộng, địa phương, bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học khu vực, quốc gia và quốc tế [3]. Viễn thám sẽ trở nên hữu ích vì nó cung cấp cái nhìn tổng hợp và là công cụ đánh giá và giám sát tài nguyên môi trường.
[4] Hiện nay trên thế giới và Việt Nam có những công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ Viễn thám và GIS trong các lĩnh vực nói chung và đánh giá sự thay đổi thảm phủ nói riêng như: 1.1 Trên thế giới - Năm 2016, Masoud Minaei và Wolfgang Kainz xây dựng bản đồ thảm phủ sử dụng ảnh vệ tinh Landsat bằng công nghệ phân loại có giám sát(supervised-classification) và phân loại không giám sát (unsupervised-classification) cùng với GIS bằng thuật toán phân loại theo pixel thời kỳ 1972 - 2014 ở miền Đông Bắc Iran để đánh giá sự 5 thay đổi của môi trường thông qua sự biến đổi của thảm phủ trong các năm 1972, 1986, 2000 và 2014. Từ đó đưa ra kế hoạch và chương trình nhằm quản lý hiệu quả các dịch vụ sinh thái.1: Bản đồ thảm phủ miền Đông Bắc Iran qua các năm: (A) 1972; (B) 1986; (C) 2000 và (D) 2014 - Năm 2017, Md. Inzamul Haque, Rony Basak sử dụng ảnh Landsat 3,4,5,7 đánh giá sự thay đổi của sử dụng đất giai đoạn 1980 - 2010 bằng cách sử dụng cả hai phương pháp: trước phân loại (pre-classification) và tiếp cận sau phân loại (post-classification) kết hợp GIS vùng Tanguar Haor, Sunamganj, Bangladesh. Đây là một vùng kinh tế-xã hội phát triền cùng với đó có sự đa dạng sinh học.
Nghiên cứu này đã thống kê rằng 40% diện tích đất của vùng này đã được chuyển đổi cơ cấu sử dụng trong vòng 30 năm qua, cùng với sự phát triển của đô thị, diện tích rừng và hồ nước lớn bị thu hẹp. Vì thế, nghiên cứu giúp đánh giá sự thay đổi của cơ cấu sử dụng đất để từ đó đưa ra được giải pháp một cách bền vững, bảo vệ hệ sinh thái.2: Bản đồ sử dụng đất vùng Tanguar Haor, Sunamganj, Bangladesh - Năm 2010, Ramesh P. Singh, Sudipa Roy và F. Kogan đã sử dụng ảnh vệ tinh phân giải rất cao của Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) xây dựng Chỉ số điều kiện thực vật (VCI) và Chỉ số điều kiện nhiệt độ (TCI) phát triển từ chỉ số thực vật (NDVI) để theo dõi tình trạng thực vật và theo dõi hạn hán.
Kết quả cho thấy việc sử dụng các chỉ số VCI và TCI đánh giá và giám sát được hạn hán của Ấn Độ. [7] - Năm 2015, Andres Sierra-Soler, Jan Adamowski, Julien Malard, Zhiming Qi, Hossein Saadat và Santosh Pingale sử dụng ảnh Landsat ETM+ kết hợp chỉ số chuẩn hóa lượng mưa tiêu chuẩn (SPI) để đánh giá tình trạng hạn hán. Phương pháp này đã cung cấp chính xác về vị trí và phạm vi bị ảnh hưởng của hạn hán và đã được sử dụng là một hệ thống giám sát hạn hán vùng miền trung Mexico. Kogan đã sử dụng ảnh viễn thám bức xạ độ phân giải siêu cao (AVHRR) để tính toán chỉ số thực vật giai đoạn 1984 - 1987 vùng Sudan.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, chỉ số điều kiện thực vật VCI có thể tính toán được tác động của thời tiết đến thảm phủ thực vật mà không bị ảnh hưởng bởi yếu tố địa hình, khí hậu so với chỉ số NDVI, vốn bị tác động bởi những yếu tố trên dẫn đến sai khác.2 Trong nước Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung, công nghệ viễn thám ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giám sát, quản lý tài nguyên nước, đánh giá sự thay đổi thảm phủ. - Năm 2008, nhóm nghiên cứu bao gồm Nguyễn Quang Tuấn, Trần Văn No, Đỗ Thị Việt Hương ở Khoa Địa lý - Địa chất, Trường Đại học Khoa học Huế bằng công nghệ viễn thám - phương pháp giải đoán ảnh Landsat kết hợp GIS trong việc thành lập bản đồ hiện trạng thảm phủ thực vật ở huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Ứng dụng có góp phần to lớn trong công tác quản lý, bảo vệ và khai thác thảm thực vật cũng như quy hoạch vùng lãnh thổ một cách hợp lý.3: Sơ đồ hiện trạng và cơ cấu, diện tích các kiểu thảm thực vật huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh năm 2008. - Năm 2013, Phạm Văn Mạnh đã nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS đánh giá tác động của nhiệt độ, độ ẩm đến lớp phủ thực vật thông qua chỉ số thực vật (NDVI) khu vực Tây Nguyên.
Bằng việc sử dụng ảnh vệ tinh MODIS chu kỳ 8-16 ngày xây dựng mối quan hệ giữa chỉ số thực vật (NDVI) với nhiệt độ bề mặt và độ ẩm không khí bằng các phương trình tương quan. Từ đó xây dựng bản đồ vùng rừng trồng và rừng tự nhiên của khu vực nghiên cứu. - Năm 2012, Đào Minh Trường và Lê Trọng Toán ở Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội đã ứng dụng công nghệ Viễn thám và GIS vào nghiên cứu và quản lý sử dụng đất tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Nghiên cứu đã sử dụng ảnh vệ tinh Corona, Landsat để điều tra tình 8 hình thay đổi của thảm thực vật che phủ giai đoạn 1954 - 2005 nhằm mang lại cái nhìn tổng quan về mục đích sử dụng đất của vùng nghiên cứu, từ đó đưa ra chính sách phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội một cách bền vững.4: Bản đồ sử dụng đất qua các năm 1967; 1989; 1998 và 2005 của xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- Năm 2015, Trịnh Lê Hùng, Đào Khánh Hoài ứng dụng công nghệ Viễn thám từ tư liệu ảnh vệ tinh đa phổ Landsat đánh giá nguy cơ hạn hán huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận bằng chỉ số khô hạn nhiệt độ thực vật (TDVI), kết quả thu được có thể thành lập bản đồ nguy cơ khô hạn và giảm thiểu thiệt hại do hạn hán gây ra.5: Bản đồ nguy cơ hạn hán các năm 2000;2005;2010 và 2014 sử dụng chỉ số TVDI khu vực huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận 1.3 Đánh giá chung về các nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan Công nghệ viễn thám và GIS là công cụ hiệu quả trong việc cung cấp phương tiện để quản lý trong mọi lĩnh vực hiện nay nói chung và lĩnh vực giám sát, đánh giá tài nguyên nước nói tiêng. Công nghệ viễn thám kết hợp GIS đã được công nhận rộng rãi như là một công cụ hiệu quả cho các kế hoạch và ra quyết định nhiệm vụ. Chúng cho phép lưu trữ hiệu quả, thao tác và phân tích dữ liệu địa lý [12]. Dữ liệu hình ảnh vệ tinh cung cấp khả năng thu thập thông tin về đối tượng cần nghiên cứu ở những khoảng thời gian thường xuyên hơn và tiết kiệm hơn so với các phương pháp truyền thống [13].